HomeBảo Trợ Học VấnBảo Trợ Từ ThiệnCông tác xã hộiTâm TìnhTìm HiểuBản TinGia Đình VoviVui CườiAbout Us

Mục lục

Bản TinBản Tin số 24 (12/2008)  
Bản Tin số 1 (08/1998)
Bản Tin số 2 (12/1998)
Bản Tin số 3 (06/1999)
Bản Tin số 4 (09/1999)
Bản Tin số 5 (12/1999)
Bản Tin số 6 (06/2000)
Bản Tin số 7 (09/2000)
Bản Tin số 8 (12/2000)
Bản Tin số 9 (06/2001)
Bản Tin số 10 (12/2001)
Bản Tin số 11 (02/2003)
Bản Tin số 12 (10/2003)
Bản Tin số 13 (04/2004)
Bản Tin số 14 (09/2004)
Bản Tin số 15 (03/2005)
Bản Tin số 16 (06/2005)
Bản Tin số 17 (12/2005)
Bản Tin số 18 (04/2006)
Bản Tin số 19 (06/2006)
Bản Tin số 20 (12/2006)
Bản Tin số 21 (04/2007)
Bản Tin số 22 (12/2007)
Bản Tin số 23 (03/2008)
Bản Tin số 24 (12/2008)
Bản Tin số 25 (04/2009)
Bản Tin số 26 (11/2009)
Bản Tin số 27 (06/2010)
Bản Tin số 28 (12/2010)
Bản Tin số 29 (06/2011)
Bản Tin số 30 (04/2012)
Bản tin số 31 (01/2013)
Bản Tin số 32 (06/2013)
Bản Tin số 33 (01/2014)
Bản Tin số 34 (06/2014)
Bản Tin số 35 (01/2015)
Bản Tin số 36 (06/2015)
Bản Tin số 37 (01/2016)
Bản Tin số 38 (06/2016)
Bản Tin số 39 (01/2017) ̣


Welcome to Vovicare

VoviCare là một tổ chức từ thiện xã hội vô vị lợi đã hoạt động từ năm 2000 do một số người Việt tị nạn sinh sống tại Sydney - Úc châu sáng lập, chú trọng ưu tiên vào lãnh vực đầu tư học vấn cho các em - mồ côi hoặc nghèo nhưng hiếu học - có cơ hội được cắp sách đến trường.


Bản Tin số 24
Tháng 12/2008

Lá thư tin tức của gia đình VoviKungFu - Vovisoft - Vovicare

VOVICARE THÔNG BÁO

Vovicare sẽ tổ chức Ngày GÁNH HÀNG TÌNH THƯƠNG 2009 tại Chipping Norton (Black Muscat Park như mọi năm) lúc 11 giờ ngày Chúa Nhựt 15/03/2009.  Kính mời quí thân hữu tham dự.

15  Chúa Nhựt  Tháng 3
Nhớ về tham dự Gánh Hàng Tình Thương


VOVISOFT THÔNG BÁO
Vovisoft sẽ mở 2 khóa học về Computer vào đầu năm 2009 như sau: 

 - Khóa Thứ Nhất: Multimedia
 Vovisoft sẽ mở khóa học basic computer: Multimedia 1 vào ngày Chủ Nhật 22/02/2009
từ 9:00 am - 12:00 pm, khóa học kéo dài 10 tuần.
Đây là khóa học hướng dẫn Nhiếp Ảnh căn bản, làm slideshow với Powerpoint và Proshow Gold do thầy Vũ Năng Hiền hướng dẫn.

 - Khóa Thứ Hai: Computer Tips and Tricks
Vovisoft sẽ mở khóa học basic computer: Computer Tips and Tricks vào ngày Thứ Bảy 21/02/2009, từ 9:00 am - 12:00 pm, khóa học kéo dài 10 tuần.
Khóa học hướng dẫn set up wireless network tại nhà, tìm hiểu Windows XP, Virtual PC (máy ảo), Xem phim trên Internet và hướng dẫn sử dụng một vài software khác v.v. do thầy Tài hướng dẫn.
 
VOVICAFÉ THÔNG BÁO
Cùng quí bà con cô bác thân thuộc và xa gần với Vovi quán. Nhân dịp lễ Giáng Sinh và Tết Dương Lịch 2009, Vovicafé sẽ đóng cửa 4 tuần lễ, bắt đầu từ 14/12/2008 và sẽ mở cửa lại vào ngày Chúa Nhựt, 11 tháng 01 năm 2009 với món khai trương là Bún Bò Huế ngon số 1 do anh chi Đông Phú đứng bếp.
Xin các bạn nhớ ghé thăm. Chớ bỏ qua. 

CÔNG VIỆC VOVICARE  ĐANG THỰC HIỆN 2007-2008
Vovicare đã và đang thực hiện các công tác từ thiện như sau:
I/ CƠ SỞ TỪ THIỆN:
Hiện Vovicare đang tài trợ dài hạn cho 10 cơ sở từ thiện nơi quê nhà từ nhiều năm qua, số tiền được gởi hàng tháng và trực tiếp đến từng cơ sở.
1/ Trường Khiếm Thính Anh Minh (Bình Thạnh, Saigon)
     Dạy các em bị khuyết tật, câm, điếc.
2/ Trường Khiếm Thị Bừng Sáng (Q. 10, Saigon)
     Nuôi dưỡng và dạy các em bị mù lòa.
3/ Trường Tình Thương Pháp Hoa (Định Quán, Đồng Nai).
     Nuôi dưỡng và dạy học các em mồ côi.
4/ Trường Tình Thương Ngãi Giao (Bà Rịa)
     Dạy học các em nghèo sắc tộc Châu Rô.
5/ Mái Ấm Hoa Mẫu Đơn (Q.Tân Bình, Saigon)
     Nuôi và dạy các em bụi đời hoặc bị cha mẹ bỏ rơi.
6/ Chùa Bữu Thắng (Daklak)
     Nuôi dưỡng và dạy các em nghèo, mồ côi trong vùng.
7/ Tịnh Thất Linh Sơn (Hốc Môn)
     Nuôi dưỡng những em bé bị cha mẹ bỏ rơi sau khi sinh.
8/ Frere Lucien Quảng (Sàigon)
     Giúp các bệnh nhân nghèo, đặc biệt là bệnh ung thư, không tiền mua thuốc.
9/ Cô Nhi Viện Diệu Pháp (Bà Rịa)
     Nuôi các em mồ côi.
10/ Trại phong Hoa Văn (Đà Nẵng)
     Nuôi bệnh nhân phong cùi và con em của họ đi học.
II/ BẢO TRỢ HỌC VẤN:  Xin được báo cáo kết quả của chương trình Bảo Trợ Học Vấn dành cho các em học sinh nghèo nơi quê nhà trong những năm vừa qua như sau:
Tổng số học sinh được Bảo Trợ: 291 em.
    - Đang học bậc Đại Học: 25 em,
    - Cao Đẳng: 21 em
    - Trung Cấp: 8 em.
    - Đang học bậc Trung và Tiểu Học: 174 em.
    - Đã nghỉ học: 63 em (Xong lớp 12 hoặc đã có việc làm…)
Số tiền bảo trợ được chuyển đến các em hàng tháng:
    - Bậc Đại Học, Cao Đẳng và Trung Cấp: 350.000VN$ / tháng.
    - Bậc Trung và Tiểu Học: 250.000$VN / tháng.
Trong dịp Tết Nguyên Đán và đầu niên học mỗi em còn nhận được thêm một khoản tiền trợ cấp để ăn Tết và mua sắm dụng cụ học hành. Ngoài ra Vovicare còn tìm hiểu và giúp đỡ thêm cho những em học sinh có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt để các em được yên tâm trong việc học.
Chủ trương của Vovicare là tìm những em có hoàn cảnh khó khăn để giúp đỡ và khuyến khích các em  trong việc học, vì vậy mong quí Ân Nhân thông cảm nếu như đang nhận bảo trợ cho các em có học lực Trung Bình hoặc Kém.
Chân thành cảm tạ quí Ân Nhân đã ủng hộ và đóng góp cho chương trình Bảo Trợ Học Vấn dành cho các em học sinh nghèo nơi quê nhà được thành công tốt đẹp.  
Vovicare đang chờ đón những tấm lòng nhân ái, giúp cho những em học sinh có hoàn cảnh khó khăn có điều kiện tiếp tục cắp sách đến trường, giúp cho các em có được một hướng đi tươi sáng.
III/ ỦY LẠO: Ngoài việc tài trợ dài hạn cho các cơ sở từ thiện nuôi dạy trẻ mồ côi và khuyết tật cũng như bảo trợ học vấn cho các em học sinh nghèo hiếu học, Vovicare còn có những công tác ủy lạo do các đại diện Vovicare ở Việt Nam thực hiện. Điển hình một vài công việc như sau:
1/ Ủy lạo đồng bào trại phong EANA - Đaklak
2/ Ủy lạo trường lưu trú sắc tộc Theresa do các Sơ cai quản ở Daklak.
3/ Ủy lạo trường khuyết tật Bình Minh ở DakLak
3/ Ủy lạo trường tình thương Di Đà ở Lâm Đồng 
4/ Tài trợ thêm cho tất cả sinh viên Đại Học, Cao đẳng và Trung cấp, nhân dịp tựu trường để trang trải phần học phí, đặc biệt đối với các em học sinh phải xa quê về tỉnh hay Sài Gòn trọ học.
5/ Tài trợ đặc biệt cho gia đình một số em học sinh gặp hoàn cảnh thương tâm.
6/ Thực hiện hơn 40 chiếc xe đạp cấp cho các em học sinh ở vùng sâu miền Trung và Huế trong năm 2008.
IV/ HOẠT ĐỘNG PHỤ TRỢ về GIÁO DỤC
Mở Tủ sách giáo Khoa và Lớp Hè tại Quảng Nam
Vovicare tài trợ 10 triệu đồng VN cho Linh mục Phan đình Lượng giáo xứ Thăng Bình Quảng Nam, mở tủ sách giáo khoa cho các em học sinh nghèo trong vùng mượn, không phân biệt tôn giáo.
Đồng thời mở lớp hè 3 tháng miễn phí cho tất cả các em học sinh nghèo từ lớp 6 đến lớp 9. Năm nay, tổng cộng có gần 90 em tham dự lớp hè vừa qua. Phần tài chánh chi phí để trả thù lao cho các giáo viên và in ấn bài vở cho lớp hè do anh Dũng (Sydney) tình nguyện ủng hộ.


Khai giảng lớp hè 2008 Quảng Nam


Các em học sinh nghèo tham dự lớp hè


Tủ sách giáo khoa Quảng Nam từ lớp 6 đến lớp 12


Các em học sinh nghèo mượn sách 2008

Chuyến đi thăm Daklak

    Vào một ngày đầu thu 2008, chúng tôi rời Saigon để đi đến xứ sở được mệnh danh là “ Buồn Muôn thuở” hay trong thời gian đó  còn được gọi là “ Bụi mù trời”. Khoảng 9giờ tối chúng tôi theo xe đò rời SG để đi Buôn Ma Thuột. Thành phố Buôn Ma Thuột nằm trong tỉnh Daklak này. Xe chạy suốt đêm, đến gần sáng chúng tôi đã được đặt chân đến xứ sở này, và hôm đó cũng đúng ngày 02tháng 9.
    Dọc theo đường đi nhà nhà đều treo cờ mừng ngày lễ. Chúng tôi đùa với nhau rằng thành phố này đang chào đón chúng ta. Thật ra đây đang là một điểm nóng mà nhà nước đang ra lệnh canh giữ cẩn thận vì sự nổi loạn của những người Thượng đạo Tin Lành. Điều đó cho thấy địa điểm này không chào đón khách du lịch nước ngoài và không có bất cứ một đoàn du lịch nào được đưa du khách đến đây. May mắn cho chúng tôi là quen được một người bạn, hiện anh đang làm việc tại xứ sở Buồn này. Anh làm việc tại địa phương nên thông hiểu đường đi nước bước ở đây và anh tình nguyện trở thành người dẫn đường, tour guide cho chúng tôi. Khách sạn đã được book trước nên chúng tôi không gặp trở ngại gì.

Trường Lưu trú sắc tộc Theresa
Anh bạn đã liên lạc trước với các Soeurs dòng Nữ Vương Hoà Bình, những người đang trực tiếp trông nom các cơ quan từ thiện mà chúng tôi sắp ghé thăm đây. Sáng sớm, Soeur Mai đã đem xe đến đón chúng tôi tại khách sạn. Điểm đầu tiên dừng chân cuả chúng tôi là Trường Lưu Trú Sắc Tộc Theresa. Trường do Sr Huệ và Sr Lành phụ trách ở số 29 đường Trần Nhật Duật, phường Tân Lợi TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Daklak.

           

     Trường nuôi dạy các cháu cô nhi hoặc còn cha mẹ nhung không thể nuôi dưỡng vì quá nghèo. Đó là con cái cuả những người dân tộc thiểu số ở đây hay còn gọi là đồng bào Thượng. Nơi đây nuôi khoảng trên 60 cháu ăn học. Ngôn ngữ chính cuả các cháu là tiếng địa phương còn tiếng Việt lại là ngôn ngữ thứ hai. Có nhiều tiếng địa phương khác nhau trong vùng này, đó tùy thuộc vào sắc tộc cuả cháu. Có những sắc tộc chỉ có duy nhất một cháu đến học. Đây là một sự khó khăn cho các cháu khi giao tiếp với nhau và đây cũng là một sự khó khăn cho các Sr trong công tác giáo dục và nuôi dạy các cháu. Tuy nhiên các Sr đã hết sức kiên nhẫn và cố gắng giúp cho các cháu biết đọc, viết chữ Việt mà vẫn giữ được bản sắc nền văn hoá riêng cuả chính các cháu.
    Suy từ chúng ta mà thấy, chúng ta muốn giữ lại nền văn hoá của mình nhưng cũng phải khốn khổ với cái mớ chữ nghiã của nền văn hoá cuả nơi ta hiện sống. Các cháu cũng vậy. Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai nên các cháu thật vất vả khi đến trường lớp mà cũng khó theo kịp được các bạn người Việt và cũng khó để giao tiếp với nhau. Các Sr muốn cho chính các cháu này, mai sau sẽ là người trục tiếp đứng ra giáo dục lại nền văn minh cho chính những người trong bộ tộc cuả mình. Như vậy kết quả sẽ cao hơn là do các Sr dạy dỗ.
    Ngoài việc học tập, thu nhập chính tại nơi này cuả thầy trò là nguồn cây trái trong vườn. Mỗi mùa thu hoạch sẽ đem lại nguồn lợi tức cho trường nhưng so ra số tiền ấy thật sư khiêm nhường vì chỉ có các Sr và các cháu lại còn rất nhỏ. Vi lý do đó nên các Sr rất cần đến sự bảo trợ học vấn cho các cháu ở đây. Có những cháu phải đi học ở xa nhưng vẫn do các Sr trợ cấp.

Khu Điều trị Phong EANA ( Trại Cùi)
    Rời trường Lưu Trú, đoàn chúng tôi theo Sr Mai đến địa điểm thứ hai là Khu Điều Trị Phong Eana, huyện Krông Ana, tỉnh Daklak. Người phụ trách chính cuả nơi này là Sr Lan, ngoài ra còn có thêm Sr Tâm và vài Sr khác.
    Bên trong khu điều trị có một trường Mẫu giáo cũng do các Sr phụ trách và nuôi dạy. Học sinh là con cái cuả những gia đình cuả người bị bệnh phong (cùi) trong trung tâm. Khi chúng tôi đến thì các gia đình người bệnh phong đã được báo trước nên họ tập trung chờ ở sân trường Mẫu Giáo để nhận quà cuả các Sr mang tới. Ở đây hiện có 150 gia đình cuả người bị bệnh nhẹ có thể tự chăm sóc, canh tác và sinh sống nên họ có từng khu đất nhỏ để sống theo kiểu tự cung tự cấp và thu hoạch cuả họ không thể bán ra ngoài vì không ai dám mua. Đây là những gia đình sắc tộc cuả Đạo Tin Lành nhưng hiện nay vùng này các Mục Sư phải rời khỏi theo lệnh nhà nước nên các Sr tiếp quản để chăm sóc cho họ.
    Các Sr chiụ trách nhiệm dạy dỗ con cái cuả họ và còn phải hướng dẫn họ cách sống định canh định cư, cách gieo trồng chăm bón thu hoạch. Ngoài ra còn phải dạy họ biết cách chăm sóc cho gia đình và bản thân của họ. Tuy họ bi bệnh nhưng không biết cách kế hoạch hoá gia đình nên họ có đông con. Các Sr cũng chịu trách nhiệm dạy nghề cho các cháu để các cháu có thể giúp đỡ cho cha mẹ.
    Các Sr cũng tự canh tác và gieo trồng để có thêm thu nhập ngoại trừ những thu nhập do các phái đoàn đến thăm viếng và giúp đỡ. Bên cạnh đó lại còn vấn đề chữa bệnh cho những người này, các Sr cũng phải chiụ trách nhiệm.
    Sr Tâm lại còn phải đến chăm sóc thuốc men, nuôi ăn và vệ sinh cho những bệnh nhân già tại nhà cuả họ. Sr đã tắm rửa, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ cho họ. Nếu bạn đến tận nơi, nhìn thấy sự dơ bẩn và mùi hôi thối tanh tưởi từ bệnh của các bệnh nhân thì mới thấy được sự chiụ đựng, nét đẹp, nhân từ cuả các Sr ở đây. Họ đã thật sự quên mình để phục vụ nhân loại. Ngoài ra, các Sr còn hoàn thành một khu dưỡng lão cho các bệnh nhân gần đất xa trời có nơi yên tịnh ngắm cảnh.
     Các Sr ở đây thực sự bận rộn vì quá ít người mà công việc lại nhiều. Các lóp Mẫu Giáo có 4 lớp và 114 cháu. Sr Tâm và một sr khác phải đảm nhiệm luôn việc nấu ăn nữa. Lại còn lớp dạy may cho các em lớn học nghề để tự may cho mình và gia đình trưóc đã. Các Sr cung cấp máy may và dụng cụ học may( kim chỉ, vải, kéo…) cho các em và dạy mang tính cách từ thiện . Những em này có những em chưa bị mắc bệnh nhưng vì là con người cùi nên không thể tới trường. Các em may cho gia đình và cho cộng đồng. Không biết là tương lai cuả các em sẽ ra sao nếu không thể tới trường và sản phẩm làm ra bên ngoài trại không ai dám mua?
    Các Sr lo ăn uống sách vở, quần áo và mọi chi phí cho con bệnh nhân. Nuôi từ thiện tổng cộng 158 cháu trong đó bao gồm cả 2 lớp Một, các cháu sang đi học, chiều về các Sr cho ăn ngủ và ôn bài học tiếng Việt (vì các cháu là người dân tộc).
Thêm vào đó các sr còn giúp xây dựng nhà bếp và chuồng heo cho những bệnh nhân có công ăn việc làm (vì bệnh nhẹ)
    Đoàn đã được các Sr đưa đi xem các cơ sở cuả trường và trại phong. Ngoài ra Sr còn hướng dẫn đi đến từng nhà cuả một số gia đình gần đó để chúng tôi có thể trực tiếp thăm viếng và giao tiền cho họ. Phải chứng kiến tận mắt mới thấy hết sự nghèo khổ khó khăn cuả họ. Chúng tôi đã có vinh dự thay mặt Vovicare để giao tiền và đã nhìn thấy được những nụ cười và sự hạnh phúc trên gương mặt cuả họ. Có những người đã khóc vì quá hạnh phúc.

Nhà Khuyết Tật Bình Minh
    Ngày hôm sau chúng tôi được hướng dẫn đến Nhà khuyết tật Bình Minh ở số 248 B Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường Thành Công, Tp Buôn Ma Thuột, tỉnh Daklak.
    Người phụ trách ở đây là Sr Hường. Nhà khuyết tật này nuôi dạy các em bệnh Down thuộc đủ mọi sắc tộc. Ngoài ra còn các em mắc các bệnh khác như tâm thần nhẹ và các em  tật nguyền, tay chân không lành lặn.
    Ở đây Sr Hường thiếu giáo viên dạy lớp, cần xây thêm một sân chơi với các dụng cụ cho các cháu chơi. Khả năng tài chánh thì hạn chế vì nơi này không thể làm ra bất cứ sản phẩm gì.
    Các phụ huynh phải đóng góp tiền để các Sr nuôi các cháu nhưng số tiền không bắt buộc nên có những phụ huynh quá nghèo nên các Sr lai phải tự xoay sở. Sr Hường đã cố gắng để thực hiện chương trình hoạt động cuả mình.
    Rời điạ điểm này, chúng tôi định đi thăm một vài làng cuả người dân tộc thiểu số ở các vùng xa thành phố nhưng anh bạn dẫn đường đã phản đối vì lo cho sự an toàn cuả chúng tôi. Theo anh vùng này công an đang theo dõi rất sát. Các Sr đã quen thuộc nên có thể vào vì không phải đạo Tin Lành, còn chúng tôi là du khách phương xa nếu vào sâu sẽ gặp rất nhiều nguy hiểm với chính quyền sở tại vì có thể bị tình nghi là người nước ngoài vào cung cấp tiền và xuí giục những người Thượng đạo Tin Lành này nổi loạn.
Chúng tôi đành gởi Sr Mai một số tiền nhờ Sr mua gao để cho những người Thượng ở vùng xa này. Sr đã nhận lời và hứa sẽ nhanh chóng thực hiện lời hứa này với chúng tôi.
    Chúng tôi rời Daklak với nhiều quyến luyến vì người dân ở đây đã để laị cho chúng tôi một ấn tượng đẹp về vùng đất “Buồn Muôn Thuở” này.
    Xứ sở này có rất nhiều cây si và có lẽ những rễ si này hay chính là sự hiền hoà cuả người dân đã níu kéo bước chân người khách lạ phương xa. Đã đến nơi này thì khó lòng mà bỏ về không cho được.
     Chúng tôi đã hẹn một ngày nào đó sẽ lại trở về thăm xứ sở hoang sơ chưa có dấu ấn cuả những người du khách này. Người ta nói rằng: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Tại sao bạn lại không một lần đến thăm thử vùng đất xinh đẹp hiếu khách, hiền hoà này và đưa tay ra giúp cho những người dân nghèo khổ ở đây và mang nụ cười đến cho họ? Mong lắm thay!!!!

Viết sau lần thay mặt Vovicare đến thăm vùng đất này vào Tháng Chín năm 2008

Nam Hương – Minh Hương

Chùa Đăng Đừng

    Về VN lần nầy, tôi có dịp đi thăm những cơ sở từ thiện nuôi trẻ em khuyết tật và một số chùa nuôi trẻ mồ côi. Đi cũng khá nhiều trung tâm nhưng mà nơi để lại cho tôi nhiều ấn tượng đẹp nhất có thể nói là chùa Đăng Đừng (tên gọi theo người dân bản xứ địa phương).
    Chùa Đăng Đừng được cất lên trong một vùng núi cao nguyên thuộc tỉnh Lâm Đồng. Từ thành phố SaiGon xe chạy hướng về quốc lộ 20, chúng ta sẽ dừng tại thị xã Bảo Lộc. Đoạn đường nầy dài 190 cây số. Từ Bảo Lộc vô Đăng Đừng phải đi thêm 40 cây số nữa, tại đây chúng ta có thể đi bằng xe gắn máy, taxi hay xe hợp đồng để vào chùa.

           

Đồng bào thiểu số, sắc tộc Châu-Ma.
    Vì là miền núi nên tốc độ xe chạy không nhanh, đây cũng là cơ hội tốt để được ngắm nhìn cảnh đẹp hai bên đường. Ba mươi cây số đầu, đường tráng nhựa mỗi bên chỉ một len, rồi từ đường lớn, chúng ta sẽ đi khoảng 10 cây số nữa mới vào tới nơi, đoạn đường nầy bằng đất đỏ, xe chạy bị lởm chởm ngồ nghề. Cũng may hôm chúng tôi đi trời nắng, nếu mưa sẽ là sình lầy trơn trợt lắm.
    Lúc chúng tôi đến nơi, thầy tru trì còn đang trên đường từ Đà Lạt chạy về, trong chùa chỉ còn lại mấy chú tiểu. Những khi Thầy có việc cần đi xa, mọi sinh hoạt trong chùa vẫn nhịp nhàng bình thường, chú lớn chăm sóc cho chú nhỏ, các chú được chia ra từng tổ nhỏ, tổ phụ trách nấu cơm, tổ lo rửa dọn, tổ đến giờ thì lên chánh điện tụng kinh. Chùa được xây dựng đơn giản, nhỏ, gọn gàng nhưng rất sạch sẽ ngăn nắp, khang trang. Quả là một sự tình cờ ngẩu nhiên đầy thú vị, chúng tôi được đến thăm miền rừng núi Đăng Đừng, nơi sinh sống của người dân bản xứ, sắc tộc Châu-Ma.
    Thầy Đồng Châu trụ trì chùa là một vị tăng trẻ mới khoảng ngoài 30, nhìn thầy rất giản dị trong bộ đồ nâu của người tu sĩ. Ban đầu Thầy chỉ định đến đây để xây một giếng nước ngọt cho đồng bào nơi đây. Khi công trình xây xong, nhìn những người dân miền núi không biết nói tiếng Việt hoặc chỉ biết lơ mơ mà phải sống trong cảnh nghèo khổ, nhất là những trẻ mồ côi hay cha mẹ vì quá nghèo không đủ điều kiện để tự nuôi sống bản thân. Do đó với tấm lòng từ bi, thầy Đồng Châu đã phát nguyện ở lại đây lập ngôi chùa nhỏ nầy để nuôi các cháu cũng như đem tình thương đạo đức đến chia xẻ cùng người dân xứ nầy.
    Thầy là người Việt duy nhất ở đây, hằng ngày Thầy phải dạy thêm tiếng Việt cho các chú, dạy các chú học kinh điển, song song đó, thỉnh thoảng Thầy phải đi vận động thêm để có đủ tài chánh nuôi các chú. Được sự giúp đở của dân địc phương, thầy trò chùa Đăng Đừng đã cùng nhau trồng những luống rau xanh để cải thiện cho các bửa ăn hàng ngày, ngoài kia những đồi trà xanh bát ngát chưa tới tuổi thâu hoạch, những cây cà phê đợi mùa ra hoa, cây ăn trái cũng khá nhiều nhưng tất cả phải chờ thêm khoảng thời gian nữa mới cung cấp được tài chính cho chùa.
    Tuy còn nhiều khó khăn, nhưng Thầy cũng đã quyết định nhận nuôi 30 em với độ tuổi từ 7 đến 15 tuồi. Hiện Chùa đã gửi:
* 04 em đi học văn hóa lớp 6 tu viện An Lạc, Thị xã Bảo Lộc;
* 02 em đi học lớp 10 tại thị xã Bảo lộc;
* 01 chú sadi đang tham dự lớp Phật học tại Đà lạt.
* Những em còn lại được cho đi học tại các trường phổ thông tại địa phương.
    Lẽ ra chúng tôi chỉ định nghé thăm chùa một chút nhưng vì quá ngưỡng mộ và mê say khi nghe Thầy kể những hoạt động của chùa nên chúng tôi ở lại tới xế chiều mới chào Thầy và các chú ra về. Trước khi đi chúng tôi đã thay mặt cho tất cả các anh chị em hội viên của hội từ thiện Vovicare tại Úc tặng chùa Đăng Đừng 100 Úc kim. Thầy rất cảm kích và ngõ lời cám ơn đến tất cả các hội viên đã cùng san sẻ và đem tình thương yêu đến với mọi người.
    Mặc dầu ngày nay thầy trò chùa Đăng Đừng sống rất đạm bạc, nhưng với hạnh nguyện ước mơ đơn giản thật khó làm mà chứa chan đầy tình người của thầy, chúng tôi chỉ biết cầu nguyện và tin tưởng rồi đây trong vòng tay thương yêu dìu dắt của thầy, các chú bé và dân tộc thiểu số Đăng Đừng sẽ có được một cuộc sống ấm no, đầy đủ hạnh phúc, an lạc hơn.
    Cũng cầu nguyện cho hội Vovicare thêm tuổi thọ để tiếp tục đóng góp giúp đở chia sẻ về quê nhà, nơi mà họ chưa được may mắn như chúng mình ở đây.

Chiều xứ Thượng sương mờ bay lơ lững
Tiếng thông reo thác đổ réo gọi mời
Đây bến đỗ con đò tình xuôi ngược
Ôm vào lòng những mầm cỏ xanh tươi
Và rồi đây năm tháng sẽ ra đi
Nhưng dân tộc Đăng Đừng luôn nhớ mãi
Ngày mới sang trong ánh nắng huy hoàng
Hình bóng Thầy mãi mãi sống ngàn năm.

Sydney, ngày 07 tháng 12 năm 2008     
Liên Hồ.

Tâm sự lên bốn của bé Vovicafé

    Trước khi viết bé đọc lại cái tâm sự của mình lúc lên ba, bé thấy sao nó giông giống như tâm tình của bé đang có trong lòng bây giờ vậy làm bé suy nghĩ: viết cái gì đây khi mọi thứ bé đã tâm sự hồi năm ngoái rồi, năm nay nếu không muốn nói là nó y chang như vậy, cái lạ ở đây là chu kỳ theo luật tuần hoàn của Vovicafé chỉ có một năm, ngắn quá làm các cô chú lo cho bé cứ phải cực dài dài thấy thương ghê. Có nhiều thí dụ nhưng bé lấy một thí dụ như vầy nha: năm ngoái chú Sang đi rồi chú Sang lại về, chỉ khác một điều là năm nay chú Sang đi mà chú Sang chưa về, hy vọng chưa về thôi chớ không phải là …hông dề (không về), bé không có khả năng làm thơ như chú Sói Trọc Đầu chọc cho chú tức chú trở về, mà bé chỉ biết nhắn với chú như vầy: chú Sang à ơi! Cái nôi của bé nó nhớ chú lắm rồi bởi vì nó thấy mấy chú già lụm cụm lại thêm chú Phúc-Khanh cũng lụm cụm clean up nó không có professional như chú, làm bé thấy ái ngại và tội nghiệp cho mấy chú lụm cụm đó quá hà (bé xin mở ngoặc ở đây để nói với cô Trâm, cô chú Hùng-Hằng và cô Nga là các cô chú mới vào nuôi nấng bé, rằng thì là cái nôi của bé xin hiểu đó là nôi huyền=nồi).
    Các cô-chú biết hông ngày nào bé cũng mong mau đến Chúa Nhật để gặp các cô chú, bé biết các cô chú rất mệt lo nuôi dưỡng bé, nhưng bé cũng biết tuy mệt nhưng các cô chú rất vui khi thấy một phần nhỏ nhờ có bé mà một số các anh chị em nghèo ở Việt Nam được cấp sách đi học, được có tuổi thơ trong sáng để thơ ngây đến trường. Đọc báo ké bé biết có những chị em Việt Nam mới có 6,7,8,9 …tuổi đã bị cha mẹ vì quá nghèo bán qua các nước láng giềng như Cam-bu-chia, Tàu… để làm cái nghề hết sức là tội nghiệp ở mấy động mãi dâm, bé muốn nhắm mắt lắc đầu để xua đi hình ảnh thương tâm của những người bạn bé bổng không có tuổi thơ, bơ vơ nơi xứ lạ quê người đang phải chịu đựng sống trong hoàn cảnh địa ngục trần gian nầy. Là con người với nhau, hơn nửa là đồng bào với nhau sao những người lớn nở lòng nào đối xử với trẻ con như vậy, vô lương tâm, vô đạo đức, gây bất nhẫn trong lòng nhiều người kể cả người ngoại quốc, người ngoài còn đau lòng sao những người làm Lớn của Việt Nam mình lại dững dưng không thấy đó là nỗi nhục của đất nước hay sao?.
    Bé nhiều chuyện quá rồi, xin lỗi các cô chú bây giờ bé nói về các cô chú đang cực khổ nuôi nấng bé nha. Bé nhớ trước tiên là cô chú Phú-Đông chuyên trị Bún Bò Huế, là cô gài Huệ nên cô nấu mọn ni hệt xẩy luôn, mọn chà huệ đặc biệt chù Đông phải trộn từ ngày thừ sạu lận, bé biệt chuyện nầy vì lần ni chù Việt rù chù Đông đi đành pìng-pong, chù Đông nọi không đi được vì: mần răng tui dàm đi, mắc ờ nhà trộn chà cho bã. Bé biết cô chú Yến-Việt (chuyên trị Bún Măng Vịt) có người bạn cùng quê với cô Phú, có lần người bạn nầy gọi điện thoại, đứa con của cô chú ấy nghe xong nói với cô chú: ba mẹ ơi có bác nào nói tiếng Diệt mà không phải là người Diệt muốn ba mẹ.

     

    Cô chú Tuyết-Ngọc chuyên trị Hủ Tiếu Nam Vang, món nầy cô đắc ý lắm cho nên đến phiên cô nấu cô dặn đi dặn lại viết menu Hủ Tiếu Nam Vang đặc biệt nghen, Tuyết nấu là ngon hết biết nha, mà thiệt mấy thứ được bày trong tô như tôm, trứng cút, thịt bầm, đặc biệt là những lát thịt được xắt bởi cây dao bén ngót do bàn tay của chú Ngọc mài thường xuyên, ôi chao nhìn bắt thèm.
    Cô chú Loan-Khang không chuyên trị mà là đa khoa bởi vì cô Loan giỏi nấu nướng lắm, bé biết trong túi áo cô Yến còn toa thuốc trị “ướp lưỡi bò” của cô Loan cho. Vì giỏi như vậy nên cô chú thay đổi món ăn luôn như Bánh Canh Chã Cá Phan Thiết, Bún Thịt Nướng, Cơm Tấm Bì Sườn Chả…nhiều thứ quá bé nhớ hổng hết. Cô Loan là người trẻ nhất trong lực lượng nhà bếp mà cũng rất là dể thương nữa, chú Hồng-Giác nói cô Loan là Bồ-Tát, bé hiểu lơ tơ mơ trong đầu suy từ cái bụng của bé Bồ-Tát là người được nhiều người thương yêu quý mến, có phải vậy không?

     

    Cô chú Hoa-Sang chuyên trị Phở, món nầy được nhiều thực khách hỏi: chừng nào đến phở đặc biệt đây? Câu hỏi nầy đủ nói lên món nầy được ưa chuộng tại Vovicafé quán. Cô Hoa không phải chỉ có phở đặc biệt đâu mà cô đặc biệt nhiều thứ lắm, nầy nha:
         - Đảm đang hạng nhất từ nhà bếp đến nhà kho, mỗi khi nhà bếp, nhà kho thiếu món chi cô chỉ cần xách xe chạy rột một cái là xong ngay.
   - Trùm sò hạng nhất (chỉ trùm sò vì bé thôi nha), cô mua món gì cũng kỳ kèo bớt một thêm hai cho nên luôn luôn rẻ so với ngoài chợ.
   - Xuống sáu câu vọng cổ (nội dung nói về bé hay Gánh Hàng Tình Thương) mùi mẫn nhất, cô ca hay đến độ mà chủ shop cho cô buy-one-get-one-free luôn.
   - Ảo thuật cũng hạng nhất luôn, cái món tưởng như đã bỏ cô biến hoá nó cũng thành ngon, bé nói thiệt chứ không nói láo đâu, thí dụ có lần hột trân châu để làm chè kể như bỏ rồi, có một cô cũng trùm sò kém cô Hoa chút chút cất lại với hy vọng cô Hoa biến hoá được, y như rằng sau khi cô Hoa úm-ba-la một hồi là các hột trân châu thành ngon lành chui vào bụng.
    Cô Ngân (không có chú nhiều năm rồi) chuyên trị Cháo Lòng, món nầy phây-mệt (famous) lắm cho nên nó làm cho cô Ngân càng lúc càng mệt hơn từ một nồi nhỏ đến nồi lớn đến hai nồi rồi đến …cái nồi ngồi trong cái nồi, tuy mệt nhưng cô hihihi hoài hà. Cô hihihi hoài vậy chớ cô lại là người …quậy nhất trong bếp, lúc nào vào bếp là thấy cô quậy, thì ra là cô … quậy cháo, từ khi có cái nôi ngồi trong cái nôi cô đở quậy hơn. Nhờ đở quậy hơn và nhờ ông Trời thương cho nên cô khỏi phải giải phẩu thẩm mà trông cứ trẻ dài dài, lại hihihi nữa!!!

     

    Cô chú Hồng-Giác chuyên trị Bún Mắm, Bánh Xèo. Cô chú là một trong vài cô chú tham gia vào gia đình Vovi  ngay từ đầu. Chú học rất giỏi, làm waiter cũng giỏi, ai gọi tô bún mắm là nghe chú: dạ có ngay, ai gọi bánh xèo là nghe chú: dạ có ngay, chú dạy tiếng Anh cũng giỏi, nói tiếu lâm cũng giỏi, chú dạy dỗ mấy anh chị con của cô chú cũng giỏi, sao cái gì chú cũng giỏi hết vậy? Bé mơ ước khi lớn lên bé cũng giỏi như chú, nhưng mà có cái phải khan-khác chú một tí. Cô Hồng thì nuôi bé bằng tất cả tấm lòng, đến roster cô tự tay làm thịt quay để được rẻ hơn mua chợ mà miếng thịt lại có mùi vị đặc biệt của thịt quay cô Hồng, tô bún mắm của cô mà bưng ngang mấy ông tây bà đầm thì bảo đảm mấy ổng bả … hỉnh mũi liền.
    Cô Trâm (không có chú vài năm rồi) chuyên trị Bánh Canh Cua, tuy mới tham gia nuôi nấng bé nhưng cô hội nhập vào nhà bếp nhanh thiệt là nhanh nhất là nói đến chuyện “nấu nướng” cô có căn bản lắm (các cô chú thường xuyên nuôi nấng bé mỗi khi nói đến chuyện nấu-nướng là bé nghe cười quá chừng luôn, bé mới có 4 tuổi nên có khi bé hiểu có khi bé không hiểu các cô chú nấu-nướng như thế nào mà cười dữ quá vậy)

    Cô chú Hùng-Hằng và cô Nga chuyên trị phở bò phở gà, vì là những niu-com-mơ cho nên bé hổng biết chuyện gì để nói về các cô chú, bé chỉ nghe lén các cô chú nuôi nấng bé, các cô chú phục vụ quán hằng tuần khen phở ngon quá xá là ngon luôn, đặc biệt là phở gà.
    Viết đến đây bé được các cô chú làm bản tin cho biết hết đất cho bé gõ key rồi, trong khi bé muốn khoe khoang cái ngày sinh nhật 4 tuổi huy hoàng vui hết biết của bé, thôi thì bé show-off cái bánh sinh nhật thiệt đẹp của bé do cô chú Khanh-Phúc làm ở shop bánh và tất cả các cô chú tham dự qua hai tấm hình bên dưới để chấm dứt tâm sự lên bốn nầy của bé.

   

Vy Trương  

VOVI 2008.
Chuyện dài Gánh Hàng Tình Thương:

    Cô bạn đồng nghiệp ngồi cạnh tôi than thở rằng chỉ còn 8 tuần nữa là tới Giáng Sinh. Giật mình nghĩ trong lòng eo ôi, đúng như lời người nào đã nói là có hai thứ chúng ta không mong mà chúng vẫn đến là thời gian và Tử thần. Không phải chúng tôi mới không lâu trước đây cùng nhau cười hả hê với sự thành công của Gánh Hàng Tình Thương (GHTT) năm 2008 sao? Thế sao lại đã nghe mọi người rỉ tai nhắc nhau họp về việc tổ chức GHTT năm 2009? Vậy là thêm một năm nữa lại nhẹ nhàng lướt qua đời mình nữa sao? Tôi tự hỏi thế và tôi bắt đầu chuyến phiêu lưu trở lại khoảng thời gian gần 12 tháng vừa qua....
    Nghĩ thì tưởng dễ nhưng thiệt không dễ tí nào. Hình như tôi đã rất chăm chỉ tống hai viên dầu cá vô miệng mỗi ngày trong gần sáu tháng qua mà. Chẳng lẽ cái thứ tôi nhắm mắt nuốt mỗi sáng đó lại vô hiệu? Lại bị lừa nữa rồi. À! nhắc đến bị lừa thì tôi chợt nghĩ đến những anh chị trong cái nhóm Vôvi của tôi. Tất cả đều bị lừa nhưng có điều cái bẫy lừa này nó êm ái quá nên kẻ bị lừa không cảm thấy mình bị lừa, và rồi những kẻ bị lừa này lại tung ra đi giăng bẫy lừa những nạn nhân mới nữa. Rồi nếu có dịp ngồi lại, tất cả ôm nhau cười rộn ràng về cái tội ngu bị lừa của chính mình và xin tiếp tục được bị lừa nữa chứ. Đúng là dị nhân nhỉ? Đúng không quý vị?


Các nạn nhân của quán Vovicafe !!

    Nếu là thân hữu của nhóm Vôvi thì chắc quý vị đã được xem phim tường thuật lại ngày GHTT 2008. Quý vị có thấy chóng mặt không? Ấy khoan, tôi không phải phê bình tài quay phim của thầy Hiền và các học viên đâu. Chớ vội hiểu lầm tội tôi lắm. Tôi nói đây là cái chóng mặt khi thấy quá nhiều khách ủng hộ và nhân viên phục vụ đó. Mỗi năm số vé GHTT bán ra cứ mỗi tăng. Mấy năm gần đây anh chị em Vôvi hình như không phải bôn ba đi bán vé nữa mà chỉ cần trả lời phôn đặt vé của thân hữu. Ai thì không biết nhưng cá nhân tôi thì dù không dám mang vé đến chỗ tôi sinh hoạt Hướng Đạo (HĐ) nhưng vẫn bị các phụ huynh bu chặt hỏi vé.
    Ủng hộ chúng tôi nhiều nhất và cũng là nạn nhân bị lừa của tôi mấy năm qua là anh Mừng, một phụ huynh trong Liên đoàn Văn Lang nơi tôi sinh hoạt. Bắt đầu vào dịp GHTT 2006 thì phải. Không biết anh Mừng mua vé GHTT từ đâu, khi anh đến dự, nhìn thấy cái gian hàng thức ăn chiên do tôi 'quản ní' (quý vị thông cảm nhé, gốc Bắc Kỳ mà) anh xì một cái dài hơn trăm thước rồi cả quyết sẽ giúp tôi năm tới. Anh còn nói một câu chắc hơn bắp là "không đẹp không ăn tiền". Nghe vậy là tôi thấy 'sướng rên mé đìu hiu' luôn, dụ được Định bên Hướng Đạo giúp là tôi thấy quá đã rồi, bây giờ không tốn một miếng nước bọt mà lại thêm một con nhạn là đà rơi vô bẫy nữa... đúng là Thánh đãi. Rồi GHTT 2007 anh giúp thật, còn làm tay sai của tôi dụ thêm được những bốn năm nạn nhân nữa mới đã chứ. Trước hết phải nói chị Bạch Y vợ anh Mừng. Tôi thì luôn biết là chị rất dễ thương. HĐ cần gì các trưởng hô hoán lên là anh chị Mừng-Bạch Y luôn hăng hái giúp đỡ. Anh Mừng giúp GHTT là kéo theo chị và hai con trai, tụi nhỏ là HĐ sinh của tôi nên sai vặt cũng được việc lắm. Anh còn kéo theo nào là ba nuôi, chị nuôi, chị kết nghĩa và nhiều người thân nữa. Tất cả mua vé đi dự nhưng khi chân bước đến gian hàng chiên là tự động thành nhân viên phục vụ ngon ơ. Thật là cảm động quý vị ơi. Đó là bên gia đình, bên HĐ thì anh dụ thêm anh Ngành, cũng một phụ huynh HĐ. Anh Ngành bị dụ bỏ một ngày trời phụ gian hàng chiên của tôi và anh lại dụ chị của anh cho chúng tôi một thùng dầu chiên nữa. Tôi nhớ lúc năn nỉ anh nhận tiền thùng dầu rồi anh từ chối trong bụng tôi mừng quá. Chắc cái bản mặt tôi lúc đó nhìn rất là gian. Không biết lúc đó anh Ngành có nhận ra cái vẻ gian của tôi không nữa. Gian kiểu này chắc quý vị cũng bỏ qua mà ha?
    Sau GHTT 2007, những nạn nhân này của tôi lại xin nạp mạng cho GHTT 2008. Gian hàng chiên của tôi năm 2008 nhìn rất là chuyên nghiệp. Giàn nhân viên hùng hậu gồm có các phụ huynh và trưởng HĐ bị tôi cho uống nước đường như Định, Bella, gia đình anh Mừng, anh Ngành và các nạn nhân của anh Mừng. Giàn bếp thì vật dụng nào là bếp lò, nồi chảo cũng toàn loại 'chà đồ nhôm" hay chôm từ HĐ. Thức ăn được ra đều đều làm mấy em nhỏ khỏi phải dài cổ đợi ăn cánh gà và chips như mấy năm trước. Thêm phần hai trưởng Định và Bella nhịp nhàng ân cần phục vụ nữa nên khách rất là hài lòng. Làm thì rất mệt quên cả ăn uống nhưng tụi tôi được các anh chị trong ban tổ chức luôn ân cần tiếp tế các món giải khát nên cũng đỡ lắm. Lâu lâu các thân hữu HĐ tạt ngang mang cho dĩa bánh xèo hay chén bún riêu lót dạ nên ai cũng tươi cả trong lẫn ngoài. Cuối ngày mọi người nắm tay vỗ vai nhau vui vẻ hẹn lần tới làm tôi muốn toát mồ hôi. Trời ơi mới sống sót qua khỏi con trăng này mà đã muốn ‘đến hẹn nại nên’ vào mùa trăng tới rồi? Cho nghỉ thở tí xíu chớ bà con.

Quán Vovicafe và những nạn nhân tự nguyện:
    Phải công nhận chúng tôi dễ bị dụ thật. Chỉ vì cái cảm giác tươi cả trong lẫn ngoài đó mà HĐ cùng uống thuốc liều theo anh Mừng nạp mạng nấu món Mì Gà Da Dòn cho quán VôviCafe.

    Anh Mừng bữa đó cho anh chị em VôviCafe nghỉ xả hơi nên dắt một đám tụi tôi nào chị Bạch Y, Định, Bella, Hào, anh chị Long Ái vô bếp Vôvi quần quật hai ngày cuối tuần lo cân mì, hấp mì, nấu nước lèo, chiên gà, trụng mì, chặt gà đùng đùng. Đang viết bài này mà tôi lại dựng đứng tóc gáy vì chỉ vài hôm nữa thôi thì cảnh ấy lại tái diễn. Lần trước nấu món này hình như ngủ tôi mơ thấy mình vừa đập cánh vừa kêu "póc.. póc..póc" (đọc khúc này anh Việt kỹ sư có động lòng không?). Không biết sau lần này tôi sẽ thành cái gì trong giấc mơ, hy vọng không phải miếng gà chiên trên cái thớt của chị Bạch Y hay con gà đang bị đút lò cho bữa tiệc Giáng Sinh (???) Hãi hùng quá xá.
    Dân HĐ ham vui dễ bị dụ đã đành, tôi ngạc nhiên suy nghĩ sao nhiều người trông khôn ngoan lanh lợi lắm mà cũng bị dụ vô bếp Vôvi như thường. Chị Trâm chẳng hạn. Không biết 'bị' ai giới thiệu chị đến quán Vôvi ăn rồi trao đổi phim khóc lóc của Hàn quốc. Một, hai lần sau nhận ra tôi là người quen của nhiều năm trước thì nói chuyện hỏi thăm nhau chơi. Vài lần sau nữa tôi thấy chị thành bà chủ quầy hàng đổi phim. Rồi chị chích thuốc liều (chị Trâm nội công đạt đến mức thượng thừa nên chỉ chích chứ không thèm uống) giơ tay xin nấu món Bánh Canh Đặc Biệt của chị. Quý vị biết anh em Vôvi chúng tôi mà, thấy có con nhạn là đà nào rơi bẫy là mừng phê luôn nên gật đầu OK cái rụp. Chỉ có tôi ngây thơ không biết là chị Trâm nhắm chọn tôi làm phụ bếp nên OK lia lịa. Giờ nghĩ lại thấy không ai ngu hơn mình.
    Lần đầu nấu, chị thấy OK nên thừa thắng xông lên xin làm nữa  (cũng lại khổ cái thân lười của tôi). Lần thứ hai chị nấu thì hú hết gia đình bạn bè lại ăn xôm tụ lắm. Nhưng cũng vì nhiều bạn bè chị vô bếp hỏi thăm quá chị phải tiếp chuyện hết cả buổi. Hôm đó tôi tuyên bố trừ lương chị mà chị vẫn cười 'vô tư'. Chắc quý vị cũng biết mà, lương của anh chị em Vôvi thì ôi thôi nhiều số lắm nghe phát thèm. Nhìn kỹ lại thì toàn số.......zero. Muốn trừ số trước hay số sau gì cũng OK hết ráo. Tuy thế, trong cái xui lại có cái hên. Chị Trâm phải lo tiếp bạn bè làm mấy chị em tôi làm túi bụi là cái xui cho tụi tôi. Nhưng bù lại nhờ chị Trâm dẻo miệng dụ dỗ thế nào tôi không biết, chỉ biết sau lần đó thì Vôvi có thêm gánh Phở Đặc Biệt do anh chị Hùng-Hằng và chị Nga đảm trách. Các anh chị rất trẻ, tính tình vui vẻ dễ mến lắm. Nhìn qua cách các anh chị sắp xếp ra phở thì đã biết là dân chuyên nghiệp. Tô phở bò hay phở gà đem ra thơm phức tội luôn cho cái mũi tôi. Bữa phở hôm đó thật là thành công, bán hết gọn ghẽ và cửa bếp luôn có những cái đầu thò vào với những câu khen ngợi phở ngon. Bà chủ kho Thúy Hoa kiêm luôn gánh phở thường trực của bếp Vôvi hôm đó cũng phê chuẩn là ngon thì chắc chắn là ngon rồi phải không quý vị?
    Dài dòng câu chuyện thì cốt ý cũng chỉ để dẫn chứng cho quý vị biết cái ma lực của nhà bếp Vôvi. VôviCafe mới mừng sinh nhật bốn tuổi vào tháng 11 vừa qua. Thật tình lúc bắt đầu không ai trong chúng tôi dám nghĩ là nó sẽ sống nổi đến ngày nay dù ngáp ngáp chứ có ngờ nó lại sống mạnh, sống vui như giờ. Trước hết, xin chân thành cảm tạ các quý vị thân hữu của quán VôviCafe đã rộng lượng yêu thương nó để dựa vào đó mà nó được sống còn đến hôm nay. Kế tiếp, xin chân thành cảm ơn tất cả các anh chị đã trải lòng mình ra tiếp nhận nó, nuôi sống nó với sự hy sinh của các anh chị, những kẻ bị lừa. Ngoài những buổi chịu trách nhiệm nấu món riêng của mình các anh chị luôn có mặt mỗi thứ Bảy và Chúa nhật để phụ giúp lẫn nhau. Nào là anh Sang vật vã rửa cái nồi nước lèo gần một trăm lít dính lọ đen ngòm. Thúy Hoa lăng xăng lo mua thứa ăn và vật dụng nhà bếp. Anh chị Việt-Yến luôn có mặt để dọn dẹp và khi cần, anh Việt còn kiêm thêm nghề thông ống cống nữa, chẳng một tiếng than. Anh chị Đông-Phú cũng luôn có mặt giúp trong bếp và chạy bàn. Truyền nhân của anh Sang bây giờ là anh Phúc mỗi Chúa nhật lăn lộn với cái mấy cái nồi khủng long đen ngòm. Lau chùi nhà bếp thì có Lộc là thường trực, lâu lâu Khang lau nhà nhưng mấy bữa đó quý vị chuẩn bị vì thế nào cũng có giông bão. Anh chị Long- Ái thì luân phiên với hai chị Hương chăm sóc quầy cà phê và kiêm luôn việc cân mì và trụng mì trong nhà bếp khi cần. Không biết trong giấc mơ Thúy Ái có khua tay vắt mì và anh Long có khua tay trụng mì không? Nếu có chắc sáng ra hai vợ chồng mắt bầm tím vì khua trúng nhau trong mơ???  Anh chị Vân-Bá thì vẫn thường xuyên có mặt giúp sửa soạn trong bếp cũng như ngoài quán. Chị Khanh, chị Hạnh, chị Oanh, Loan và con lười tôi thì cũng thường có mặt để được sai vặt. Chị Liên thì giữ luôn cái job rửa chén mệt nhọc mà nụ cười vẫn luôn trên môi. Hiền lành như chị Liên mà cũng học được cách dụ dỗ của ai đó nên nay Vôvi có thêm một nạn nhân mới xin được rửa chén là Ly. Ly tuổi rất trẻ và vì trẻ người non dạ nên bị chị Liên dụ cái rụp. Ly vô bếp ngày đầu dính chân luôn ở chỗ rửa chén cả buổi. Tưởng là sau bữa đó Ly sẽ 'một đi không trở lại'. Ai ngờ tuần kế tiếp thấy Ly có mặt, chị em tôi nháy mắt nhau "Dính bẫy rồi". Cứ thế mà hình như Ly chưa bao giờ vắng mặt từ buổi đầu đó.
    Hãy cùng cười và tự thú rằng chúng ta là những kẻ khù khờ đã bị lừa sập vào cái bẫy Vôvi êm ái này. Chẳng phải tục ngữ đã có câu "Thánh nhân hay đãi kẻ khù khờ" hay sao?
Hãy cùng cười và tự chúc chúng ta đã thành những nhà thuyết phục gia thành công dù chưa qua một khóa học nào cả. Các anh chị thành công vì các anh chị đã dùng sự hy sinh của chính bản thân mình làm gương.
    Ôi chao! Chỉ vì một chữ ' lừa' mà tôi hành hạ quý vị phải đọc cả một bài này rồi sao? Tai hại quá. Tôi có nên mừng vì đã ' lừa' được quý vị??
    Xin chân thành cảm ơn thời gian và sự kiên nhẫn của quý vị đã chịu khó nghe tôi kể về cái bếp VôviCafe thương yêu của tôi. Thân ái chúc quý vị và gia quyến một mùa Giáng Sinh an lành và hạnh phúc. Cái hạnh phúc cảm nhận được từ sự hữu dụng của bản thân mình đối với gia đình và nhân loại (mùa Giáng Sinh là dịp tốt cho chúng ta trổ tài dụ dỗ đó quý vị. Hãy nói về VôviCafe cho gia đình bạn bè và thử tài dụ dỗ của mình xem, biết đâu sẽ có khối những con nhạn là đà sập bẫy rớt vào bếp VôviCafe chăng? Xin quý vị thông cảm, méo mó nghề nghiệp nữa rồi).
Ngan Pham

Một chuyến đi về

    Vào đầu tháng 9/2008, tôi có dịp tháp tùng với phái đoàn Văn Khố Thuyền Nhân về thăm lại hai trại tỵ nạn Bidong (Mã Lai) và Galang (Indonesia). Đối với quí vị của nhóm VKTN thì mỗi chuyến đi của họ là một chuyến công tác cho việc bảo tồn di tích lịch sử của những thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn cộng sản, việc nầy nó nằm ngoài khả năng của tôi. Riêng cá nhân tôi muốn thăm lại Bến Bờ Tự Do nơi cái gia đình nhỏ bé gồm bốn thành viên của tôi được người Mã-Lai cho tá túc gần nữa năm sau bốn đêm ba ngày lênh đênh trên biển cả mênh mông. Còn một cái muốn nữa thứ yếu là đèo bồng bắt chước người Tây: du lịch để thấy được cuộc sống của con người muôn màu muôn vẻ ra sao. Đi  một đàng học một sàn khôn mà lỵ, ông bà mình dạy như vậy, chuyến đi nầy tôi thấy được một số điều mà từ nào đến giờ chỉ nghe mà bất kiến kỳ hình, sẽ kể cho quí vị dài dài ở các phần sau.
    Ngồi trên phi cơ thoáng qua chút chút nhớ đến buổi tối hôm đó Vovicare có một buổi họp mặt nhân ngày Father’s day mà theo lời quảng cáo của chị Ái-Long thì rất chi là hấp dẫn, trong lòng thấy hơi tiên-tiếc cho … Nhà-Tôi, nếu tham dự không biết mấy đứa con tui viết cái sét gì cho ba tụi nó khi chúng tôi đã là ông bà ngoại rồi. Về nhà nghe kể rằng cậu quí tử của anh Sang-Hoa hứa sẽ kéo thùng rác ra cho ba trong tuần đó, kết quả là tui kéo thấy bà nó có làm gì đâu, anh Sang nói thế trong ngày cưới của trưởng nam anh Sơn-Tuyết, vậy là cậu quí tử nầy viết sét lũng cho ba nó. Còn quí tử hay thứ nữ của anh Khang-Loan viết cái sét: Con sẽ clean up cái phòng của …con. (Theo tôi nó làm được như vậy là tốt rồi đừng đòi hỏi nó làm cho hai you hơi khó đó nghen Loan-Khang). Chắc còn nhiều chuyện vui nữa nhưng không có dịp nghe he he he (Vovicare cứ he he hi hi suốt mỗi cuối tuần).
    Chiếc máy bay của Hàng Không Mã-Lai đáp xuống phi trường Kuala Lumpur trời cũng vừa tối, nơi đây hơn 26 năm trước hai vợ chồng tôi cùng hai đứa nhỏ mới học xong lớp 1 lớp 2 lôi thôi  lếch thếch xách hai ba túi nylon, mang dép cao su hai quai leo lên phi cơ đi định cư bên xứ Úc, một đất nước giàu lòng nhân ái và bao dung đã cho tôi một cuộc sống tự do và có nhân phẩm.

Hạnh phúc đời tị nạn ( P.Bidong 1982)

    Hôm nay tôi không còn là kẻ phản bội dân tộc chạy theo liếm gót giày đế quốc để có bơ thừa sửa cặn, mà là khúc ruột ngàn dậm của quê hương, tôi trở lại phi trường nầy với tư cách là một du khách, xách cái túi cá nhân đi mút chỉ cà tha mới tới chỗ lấy hành lý, thấy phi trường của người ta sao to lớn đẹp đẽ quá chừng nghĩ mà tội nghiệp cho cái phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất của Việt-Nam mình, ôi bao giờ cho đến bao giờ Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng mới trở thành Việt Nam Minh Châu Trời Đông như niềm mơ ước của ông cha ta?. Nếu những người lãnh đạo ở Việt Nam cứ ôm mớ lý thuyết Cộng Sản áp đặt lên cái quê hương khốn khổ nầy thì còn khuya, tôi nghĩ bây giờ họ đã sáng mắt nhưng chưa chịu sáng lòng, vì quyền lợi cá nhân và phe nhóm họ đành lòng ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi khổ của người dân, trước tệ nạn xã hội đang phá hũy dần đạo đức lâu đời của dân ta.
    Đến khách sạn cũng đã giờ tý canh ba vậy mà bốn giờ sáng hôm sau đã phải thức dậy để ra phi trường cho kịp chuyến bay nội địa đến tiểu bang Terengganu, tôi phát âm tiếng Terengganu (trăn-ga-nu) dòn rụm đến độ một chị đi chung đoàn biểu: làm như dân Mã nói tên địa phương của nước Mã vậy. Tôi cho chị biết nơi đây là nơi ghe tôi cập bờ, nơi tôi đặt bước chân đầu tiên trên bến bờ tự do sau hơn 6 năm sống với cộng sản, cho nên cái tên Bidong và Terengganu nó cứ được lập đi lập lại suốt mấy chục năm nay trong cuộc đời của tôi, những ai cùng tàu vượt biển với gia đình tôi chắc cũng vậy mà thôi. Từ Terengganu dùng xe bus đến tiểu bang Kelantan giáp biên giới Thái   Lan, nơi đây ban tổ chức cho biết sẽ đi thăm ba nghĩa trang Chereng Ruku, Balai Bachok, Panji (mấy địa danh nầy tôi cọp-pi bài viết của ông Trần Đông là trưởng đoàn, chứ tôi nháng qua có một lần nhớ không nổi, nghe tai bên nầy nó chạy qua tai bên kia bay vào không gian mất tiêu). Tại nghĩa trang Chereng Ruku có ngôi mộ tập thể của 123 thuyền nhân của chiếc tàu MT065, trong số nầy có hai người con của anh chị Hoàng-Bé (là người đi cùng đoàn) và vợ con của ông Nguyễn Ngọc Ngạn (MC cho trung tâm Thuý Nga).


Mộ tập thề 123 người tị nạn tại RuKu – Mã Lai

    Theo lời kể của chị Bé, bà xã của anh Hoàng (tài công của chiếc tàu nầy) thì sau 5 ngày đêm lênh đênh trên biển chiếc tàu mang trên 300 nhân mạng đã đến được Chereng Ruku vào một buổi chiều nhưng lính biên phòng Mã-Lai từ trên bờ bắn ra không cho tàu cập bến nên anh Hoàng cho tàu neo ngoài khơi cách bờ khoảng 200 mét. Bất hạnh biết bao cho con tàu định mệnh nầy là rạng sáng hôm sau thì mưa lớn, sóng gió nổi lên làm con tàu lắc lư rồi lật ngang, cảnh hỗn loạn diễn ra mạnh ai nấy tìm đường sống, tiếng kêu khóc thảm thiết vang trời, tiếng la hét gọi nhau, trẻ con bì bõm dưới nước…ôi hãi hùng làm sao. Kết quả: một số người sống sót, một số người nước biển cuốn trôi vĩnh viễn, một số người chết ngay nơi bến bờ tự do vừa đặt chân tới và họ được cư dân nơi đây chôn cất trong ngôi mộ tập thể nầy (theo như các cư dân kể lại họ chôn các thuyền nhân nầy thành 4 lớp, lớp nầy cách lớp kia bằng một tấm nylon).
    Thấy 5 tấm mộ bia với chi chít tên của những người bất hạnh mới cảm nhận sâu xa rằng những người đang sống ở hải ngoại như mình thật là may mắn. Đứng nhìn chị Bé ngồi bên tấm mộ bia có tên của hai đứa con, các ngón tay triều mến như muốn nâng niêu các con của chị lên tên các cháu, một vài chị trong đoàn không cầm được xúc động quay mặt đi âm thầm lau khô dòng nước mắt. Sau 30 năm 1978-2008 hội ngộ cùng con trong hoàn cảnh xót xa như vầy vẫn còn hơn bao chục ngàn hay trăm ngàn người khác vĩnh viễn vùi thây trong lòng đại dương. Cái bất hạnh của những người nằm nơi đây, cái bất hạnh của những người biệt tâm tích để lại trong lòng người thân bao ray rức…ôi một trời đau khổ, Ngàn Giọt Lệ Rơi (tựa một cuốn sách do chị Đặng Mỹ Dung là cựu học sinh trường Phan-Thanh-Giản viết) không thắm vào đâu so với triệu giọt lệ rơi của các thuyền nhân. Sau khi các sư sãi cùng những người trong đoàn làm nghi thức tụng niệm chúng tôi rời nghĩa trang Chereng Ruku để đến nghĩa trang Balai Bachok cách Chereng Ruku chừng 30km, nơi đây cũng có một ngôi mộ tập thể  gồm 46 người không ai có tên tuổi gì cả, không biết họ thuộc tàu nào. Căn cứ vào ngày chôn ghi trên mộ bia chỉ sau 3 ngày chiếc tàu trên bị nạn cho nên người ta đoán có thể họ là thuyền nhân tàu MT065. Rời Balai Bachok chúng tôi đến Panji cách Balai Bachok chừng 15 phút lái xe, tại nghĩa trang nầy không có mồ tập thể, những người bất đắc dĩ định cư chỗ nầy đều từ bệnh viện đưa vào. Những ngôi mộ hoang đầy cỏ dại, rác rữi đã được các anh chị trong đoàn dọn dẹp sạch sẽ, những nén nhang được đốt lên từng ngôi mộ như sưởi ấm những linh hồn hoang lạnh từ lâu. Buồn.
    Chiều lại về khách sạn Laguna Redang Beach, trước đây là nơi nghĩ mát của hoàng gia Mã bây giờ là khu du lịch, được uống nước dừa ngon không thua gì dừa được hái từ trên cây xuống như hồi còn ở quê nhà, (ông xã tôi ăn một hơi đến hai trái mà vẫn còn thèm, ăn thêm trái thứ ba sợ bể bụng) chúng tôi được một buổi cơm chiều tại khách sạn ngon thiệt là ngon. Từ khách sạn nhìn ra biển, xa xa kia là đảo Pulau Bidong, một thời dĩ vãng của hơn một phần tư thế kỷ sống lại trong tôi, Bidong ơi ngày mai tôi sẽ trở về.
    Sáng hôm sau trên con tàu đầy đủ tiện nghi đoàn chúng tôi về lại Bidong (nếu so sánh với các tàu vượt biển thì eo ơi sao chúng ta gan cùng mình vậy hay là chúng ta điếc không sợ súng), cầu Jetty cũ (bây giờ đã có cây cầu mới kế bên) nơi đã chứng kiến hằng chục ngàn cuộc chia tay đẫm lệ của kẻ ở người đi cùng với bài ca Biển Nhớ càng làm cho lòng người thêm nức nở, tình Bidong có list thì dông mà.
    Có một điều cho tới bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là: tại sao trong các trại tỵ nạn có quá nhiều cuộc tình chớp nhoáng, biết rằng nó chẵng đi đến đâu mà vẫn yêu? Chữ yêu vốn khó định nghĩa được lúc bình thường, trường hợp nầy có phải vì dục vọng chăng? Có phải sau một cuộc hành trình không biên giới giữa sự sống và cái chết mà con người quay qua sống bạt mạng chăng? Nhiều hàng xóm của tôi trên đảo (khu E) cùng những câu chuyện được nghe ở các khu A, B, C… những chuyện tình yêu cuồng sống vội được nghe và được thấy cùng khắp đảo.
    Trong đoàn có anh Huệ là người đã trãi qua cuộc tình rất đẹp trên đảo, anh vo ve như thế nào mà phải lòng một cô người Mỹ làm việc cho Cao ủy tỵ nạn, kết quả của mối tình nầy là một bé trai tên Hans ra đời, họ đưa nhau qua Úc sống một thời gian nhưng cuộc hôn nhân dị chũng nầy không hạnh phúc, cô vợ nhất định đòi về Mỹ, còn anh thì nhất định không theo vợ, thế là họ chia tay, cháu bé tòa xử cho theo mẹ, nhưng tội nghiệp cho bé là bé muốn ở với ba theo lời anh nói. Cháu năm nay đã 19 tuổi rất hiền lành và rất dể thương.


Hai cha con anh Huệ và cháu Hans

    Hôm biết được Văn-Khố-Thuyền-Nhân sẽ tổ chức chuyến đi nầy anh Huệ cho cháu Hans hay, hai cha con cùng trở về chốn cũ, cha thì tìm về kỷ niệm xưa còn con cũng biết được nơi hòn đảo xa xôi hoang vắng nầy ba mẹ đã hình thành ra con. Khi chi tay với đoàn hai cha con anh dắt nhau về Việt-Nam để cháu biết quê nội như thế nào và ở lại đây 6 tháng để học tiếng Việt, rất mong cháu không quá thất vọng về cái quê cha đất tổ vô cùng nghèo khổ lạc hậu so với quê mẹ phú cường tân tiến của cháu.
    Vừa viết vừa nghe bài Biển Nhớ từ web của hqvnch.net, tôi chợt thấy xâu xa sự may mắn không cùng của tôi, kẻ được đi định cư ở một nước thứ ba, xin cám ơn tất cả những người lính đã nằm xuống cho quê hương, những người đã bỏ mình trong biển cả khi vượt biên, những người đã đến được bến bờ tự do (quê hương thứ hai) nhưng vĩnh viễn nằm lại trong các nắm mồ tập thể hay rãi rác khắp nơi tại các nghĩa trang hoang vắng, nhờ quí vị mà tôi có được ngày hôm nay.
    Cây cầu Jetty ngày xưa nhộn nhịp người đưa đón, thuyền nhân nhộn nhịp khuân vác thức ăn được tiếp tế từ đất liền giờ đây chỉ còn trơ lại hàng cột trông tội nghiệp, một bầy cá lần đầu tiên tôi nhìn thấy có thể nói là vĩ đại to cở diện tích miếng đất của một căn nhà to bu quanh hai chân cầu, từ trên bờ nhìn xuống tưởng đây là một đám rong biển. Chị Tâm-Tâm từ khu vực ngày xưa là văn phòng trại (bây giờ không còn một miếng ván, một cục gạch nào cả) chỉ tay vào bầy cá hỏi tôi: Đố chị cái đám đen thui đó là gì vậy? Trong bụng tôi nghĩ: theo hướng đạo mấy chục năm rồi mà dõm mà dở ẹt, đi qua không biết bao nhiêu bãi biển rồi mà chẳng biết đó là rong biển, tôi trả lời cộc lốc: rong biển, khi đến gần leo lên cột cầu nhìn xuống mới biết đó là bầy cá. Bây giờ đến phiên chị Tâm mát mẽ (chứ không phải hiền lành, lịch sự chỉ chê trong bụng như tui). Chị à nếu là rong biển em hỏi chị làm gì!. Ngày xưa mà có bầy cá nầy thì chắc đã có vài thuyền nhân khỏi phải bị lính Mã Lai đánh đòn vì đi bắt cá lậu.


Cầu Jetty ngày xưa chỉ còn trơ hàng cột bên cạnh cây cầu mới

    Tiếp tục đi sâu vào trong đảo, nơi đâu cũng um tùm cỏ dại, các khu nhà ở chẳng thấy đâu, tại khu A chỉ còn lại hơn một chục nấm mồ phải phát cây vạch cỏ mới thấy được, viết đến đây nhìn tấm hình trước mặt tôi lại có một suy nghĩ khác bên trên: thà là đem họ ra biển, đại dương sẽ xóa tan những bất hạnh đau thương nầy còn hơn là nằm lại đây trong hoang vắng cô đơn xa lạ cho đến nghìn thu!!!


Nghĩa trang khu A trên đảo Bidong

    Các cơ sở để điều hành sinh hoạt trên đảo như: văn phòng Cao Ủy, nhà thương, trường học, văn phòng ban điều hành trại…tất cả đều mục nát xiêu vẹo hoặc mất dấu tích luôn. Lên đồi tôn giáo cũng vậy, nhà thờ chỉ còn thấy mỗi một cây thánh giá chơ vơ, tấm bia tưởng niệm mà Văn Khố Thyền Nhân dựng lên vài năm trước cổng nhà thờ đã bị đập phá theo lời yêu cầu của chính quyền VN, giờ đây chỉ còn là một mớ gạch vụn. Còn ngôi chùa thì các tượng Phật đều bị chặt cụt đầu kể cả tượng Phật Quan Âm bên ngoài chùa, kế bên chùa là một cái hall nhỏ để các cháu phật tử sinh hoạt, hồi đó hai đứa nhỏ của tôi và hai đứa con của người bạn chung nhà cứ xin mẹ cho lên chơi với các anh chị trên chùa vì vui hơn ở nhà, (nói là nhà cho oai chứ đúng ra chỉ là cái chòi, kèo cột kể cả giường ngủ đều làm từ cây rừng).


Ngôi chùa trên đồi tôn giáo Bidong bi tàn phá

    Mỗi ngày học tại trường chỉ vài giờ vì không đủ thầy cô giáo cũng như không đủ lớp học cho nên chúng nó cứ lên chùa suốt, tôi cũng đi dạy trong thời gian ở bên đảo. Nói chung mọi thứ còn lại trên đảo đều chịu chung số phận: bị tàn phá bởi thời gian và một phần do con người.
    Trong khi mọi người còn đang loay hoay lượm lặt những gì còn sót lại trên đồi tôn giáo đem về làm kỷ niệm thì ba chị em của chị Mã Thảo (1 người từ Mỹ, 2 người từ Việt Nam) đi đến nghĩa trang khu F để tìm mộ của người em trai độc nhất của gia đình. Chị nầy thấy được ngôi mộ của em chị qua trang web của Văn Khố Thuyền Nhân nên chị quyết định tháp tùng phái đoàn để bốc mộ em đưa về quê mai táng sau 24 năm (1984-2008) cậu em nầy lạc loài trên Pulau Bidong. Khi vừa gặp đoàn chị đưa hình cậu em trai cho hết người nầy đến người kia xem và nói: Thằng út Lộc cao lớn đẹp trai lắm, hồi nó chết mới có 26 tuổi hà, theo như lời chị nói thì cậu nầy khi vừa tới bờ vì quá yếu lại quá khát cậu uống cho một bụng nước biển bị ngất xỉu, lúc được đưa vào nhà thương cứu không kịp, trong khi đào mộ và làm thủ tục hỏa thiêu ba chị em cứ khóc dài dài. Tại nghĩa trang khu F có chừng trăm ngôi mộ, linh mục Paul Chu Văn Chi và bác Nguyễn Thuyên (là chủ nhiệm báo Chuông Sài-Gòn trước 1975) cử hành lể tưởng niệm thuyền nhân an nghĩ trên đảo.


Nghĩa trang khu F trên đảo Bidong

    Trước khi hành lễ cha Chi hỏi tôi có tìm thấy ngôi mộ của cô Minh mà chị Thúy-Hoa nhờ cúng dùm không?. Thật ra cứ phải theo đoàn có giờ nào là của mình đâu mà đi tìm cho nên tôi nín thin. Trước khi đi chị Hoa có gởi tôi 20 đồng nhờ cúng dùm cho cô Minh là người chị không quen biết nhưng khi lên đảo chị ở ngay ngôi nhà có thờ cô nầy, từ đó chị cứ chiêm bao thấy cô ta hoài, mà linh nghiệm nữa là trong thời gian ở đảo chị cầu xin gì với cô nầy đều được như ý, mãi đến bây giờ thỉnh thoảng chị vẫn còn thấy cô ta, chị Hoa nầy gan dạ thiệt chứ như tôi sợ ma lắm, mỗi lần mà chiêm bao thấy như vậy chắc cái xương sống nó cứ ơn ớn lành lạnh đến mấy ngày sau chưa hết. Sau buổi ăn trưa đơn sơ do người Mã mang từ bờ Terengganu sang đảo khoản đãi, đoàn đi thăm Ông Già Bidong (hồi còn ở đây tôi không biết có ông già nầy, hay là huyền thoại về ông chỉ mới có sau năm 1982?). Huyền thoại rằng ông đã liều mình cứu sống một cô gái ngoài biển khơi, sau đó ông qua đời cho nên thuyền nhân trên đảo thời đó lập một góc nhỏ nầy để tưởng nhớ đến ông, ông linh thiêng lắm, có nhiều người đến cầu xin và được ông cho nên họ làm tấm bảng tạ ơn. Những tấm bảng tạ ơn Ông Già Bidong giờ đây rêu phong bao phủ, trông điêu tàn như số phận của Pulau-Bidong.
    Rời Bidong khi trời sắp tắt nắng, từ đảo vào đất liền tàu chạy mất khoảng một tiếng đồng hồ, trên chuyến tàu lúc trở về nầy Nhà-tôi nhìn lại được nơi tàu chúng tôi cập bến cách nay gần 27 năm nhờ thấy vài căn nhà nhỏ nằm sau hàng dương mà anh đã cho tàu chạy qua chạy lại nhiều lần chờ cho trời sáng hẳn mới dám vô gần bờ bỏ neo. Anh mừng quá chỉ cho vài anh chị đang đứng trước mũi tàu và nói: chuyến đi nầy đối với riêng tôi đến đây là đủ rồi.
    Chiếc tàu bé tí teo mang theo 89 nhân mạng khi lên đảo Bidong được mang tên là PB 420 khởi đi từ cửa Hàm-Luông Bến-Tre vào một buổi tối tháng 11 năm 1981, ông xã tôi là tài công coi như kiêm luôn chủ tàu vì chủ chiếc tàu nầy là bạn cùng khoá hải quân Nha Trang, khi đi anh gởi gấm bầu đoàn thê tử của anh cho nhà tôi còn anh sẽ đi chuyến sau. Đa số tàu vượt biển đều chở người như chở mắm nên khi ra khỏi cửa Hàm Luông ông xã tôi cho một chị có hai con nhỏ độ 1 và 2 tuổi lên cabin ngồi để các cháu đở bị ngộp, trong cabin còn có đứa em trai của nhà tôi và đứa con mới 3 tuổi của nó, tôi và hai đứa nhỏ ở dưới khoan như mọi người. Tàu vừa ra cửa biển là gặp sóng to gió lớn, người nào người nấy trong ngày đầu nói nôm na là những con gà chết trừ nhà tôi, anh bạn cùng khoá phụ với anh và người thợ máy (còn có ai nữa thì tôi không biết). Mùi hôi thúi từ ói mữa, nước tiểu…bốc lên ôi thôi thúi quá trời quá đất, đầu nầy ụa đầu kia ụa làm cái dạ dày trống rỗng của tôi cứ co giật từng hồi thế là ụa ụa, lúc đó hết biết mắc cở là gì nửa, còn có sức ngoẹo cái đầu qua một bên để khỏi phải ói vào quần áo là giỏi lắm rồi, chịu đựng cái cảnh … lắc lư con tàu đi nầy thiệt khổ ơi là khổ, nhìn thấy hai đứa nhỏ dù không bị ói nhưng tàu chòng chành theo sóng quá lớn làm hai đứa cũng đừ câm, trong phút giây tôi đâm ra hối hận, phải chi con nghe lời má ở lại thì đâu có khổ như vầy tôi kêu thầm trong bụng. Khi sóng lặng gió êm nhà tôi cho tàu chạy chậm xuôi sóng, nhờ các chú thanh niên còn khoẻ tát nước biển để rửa tàu, kể từ đó tôi cựa quậy được và khoẻ dần, nhiều người chắc cũng như tôi khoẻ ra cho nên có thể bò hoặc đứng dậy đi đây đó lúc cần thiết, riêng tôi có khi bò ra sau lái ngồi chút cho dể thở nên tôi có thể nhìn thấy lúc biển động mạnh con tàu cứ như nằm trong thung lũng nước, chỉ cần nó chệch một góc độ nào đó thì một đợt sóng chỉ một đợt sóng thôi phủ chụp lên con tàu là nó biến mất ngay mang theo 89 con người vĩnh viễn định cư trong lòng đại dương. Đang lo đang sợ chết vậy mà có lần tôi suýt bậc cười khi nghe anh thợ máy lầm bầm chưỡi thề: ĐM mình van vái Phật Bà Quan Âm thấy mẹ mà mấy cha mấy mẹ cứ đái hoài. Tôi hỏi: Chuyện anh van vái với chuyện đi tiểu nó có liên quan gì đâu mà anh bực mình? Có chứ, nước đái chưa kịp chảy đi là sóng nó quánh vô tàu rồi, sạch sẽ gì mà van với vái, làm sao linh nghiệm được, thì ra là vậy. Giải quyết bầu tâm sự nầy còn có một chuyện vui trong tàu của tôi nữa là mỗi khi có nhu cầu toilet phải bò qua cabin nơi có chị và hai đứa con nhỏ của chỉ, chị nầy thấy lỗm ngỗm kẻ nầy bò qua kẻ kia bò lại (gần 90 nhân mạng lận mà) làm chị bực mình càu-nhàu: Đái ỉa lắm thế, những người khách họ tưởng chị là bà xã của tài công họ không dám phản ứng, âm thầm chịu đựng mỗi khi bất đắc dĩ phải bò qua đây nhưng trong lòng giận lắm, họ nói với nhau: nếu còn sống đến bến bờ được rồi tụi mình đập cho con mẹ mập nầy một trận, ỷ vợ tài công làm phách. Đến bến bờ họ mới biết vợ của tài công là tôi, họ thuật lại cho tôi câu thì-thầm mấy ngày qua ở trên và còn thêm: Chị biết hông cái lúc sóng lớn quá nó đập vào lường tàu kêu răn-rắc, tụi tui sợ tàu bể bèn bàn với nhau bỏ một ít gạo và muối xuống biển để cúng thủy thần, đáng lẽ phải nói với con mẽ xuống làm cái chuyện đó nhưng tụi nầy ghét quá tụi tui tự làm luôn. Thiệt là mai mắn cho “con mẽ” nhờ không phải là “tôi” nên thoát khỏi một trận đòn hội chợ. Chuyện xẫy ra đã 27 năm qua nhưng khi ngồi viết lại tôi còn mỉm cười với …tôi, cứ tưởng như mới ngày nào.
    Vòng vo chuyện chiếc tàu của tôi hơi nhiều, bây giờ mình Về Bến Tự Do lại. Trở về Terengganu sáng hôm sau chúng tôi đi thăm nghĩa trang khu A, B, C, và D, các nghĩa trang nầy đều có mộ tập thể và cá nhân, đoàn dừng lại ở ngôi mộ tập thể có nhiều người nhất để làm thánh lễ cầu an cầu siêu, sau đó mọi người chia nhau cấm nhang từng ngôi mộ, một cách sưởi ấm lòng những đồng bào xấu số nằm lại nơi nầy, có một ngôi mộ tập thể 19 người nghe nói họ bị ngộ độc vì cùng ăn cháo rắn trước khi đi định cư vào năm 1977. Định mệnh??? Một số không nhỏ các ngôi mộ cá nhân đã được Văn Khố Thuyền Nhân sửa sang lại tuy đơn sơ nhưng tươm tất, có những ngôi mộ khi đọc họ tên mọi người phải đoán mò vì người Mã không biết vần tiếng Việt nên khi lập mộ mà gặp giấy tờ lem luốc hoặc viết không rõ thì họ cũng đoán mò mà ghi lên mộ bia. Đúng là vùi thây nơi xứ người, nhưng dù sao chúng ta cũng cám ơn những người Mã Lai tốt bụng đã cho hằng ngàn hằng vạn đồng bào bất hạnh của mình gởi nắm xương tàn trên đất nước của họ.
    Chiều lại chúng tôi đến Genting một thành phố nằm trên cao nguyên cao 1500m cách Kuala Lumpur chừng một tiếng rưởi lái xe. Genting đẹp ơi là đẹp mà cũng lạnh ơi là lạnh, đó là một thành phố ăn chơi và giải trí, chúng tôi ở First World Hotel là khách sạn to nhất thế giới với 6118 phòng, (tôi nghe có lộn không đây) bên trong khách sạn đủ mọi thứ tiện nghi như là một thành phố tân tiến vậy, đối với tôi đến đây ở lại một hai ngày thì được chứ cho ở lâu thì xin lắc đầu bởi vì người ta đông ơi là đông, nhộn nhịp vô cùng mà tôi thì thuộc vào loại: ta dại ta tìm nơi vắng vẽ, không biết trong đoàn tôi có ai là người khôn người đến chốn lao xao? Có phải Genting lao xao vì có casino, một cái casino duy nhất trên đất nước Mã? Ở Genting mọi người tự túc ăn uống, hai chúng tôi chọn cái quán của người Tàu ăn món mì gà, may quá ăn được tô mì thiệt ngon (xin nhớ cho rằng chỗ nầy không có thức ăn chế biến bằng thịt heo bởi vì đạo Hồi là quốc giáo của Mã Lai), 
Ngày hôm sau từ Genting dùng xe bus đi vào lãnh thổ Singapore đến bến tàu sang đảo Batam, hòn đảo có 43 triệu dân nầy là hòn đảo lớn thứ ba trong số hơn 14 ngàn đảo thuộc lãnh thổ Indonesia. Nghe nói ngày trước muốn đi từ Batam sang trại tỵ nạn trên đảo Galang phải dùng tàu, nhưng bây giờ thì đi bằng xe hơi được rồi nhờ có đến 5 cây cầu mới xây cất nối liền các đảo. Trại tỵ nạn Galang (hiện đang có cư dân người  Nam-Dương ở) chia làm ba khu vực: Galang1, Galang2, Galang3. Trong đoàn có chú Hùng (định cư ở Thuỵ Điển) là người trẻ nhất, chú tới đây khi mới 11 tuổi và ở lại nơi nầy đến 4 năm cho nên đến Galang cứ như cá gặp nước, líu lo chỉ mọi người: “Đây Galang cửa ngõ tình xù, anh đi anh để cái dù cho em, đây cầu tàu nơi đã đón đưa hơn hai trăm năm chục ngàn người tỵ nạn, con đã từng đưa đón không biết bao nhiêu lần mà kể, đây con tàu nhỏ xíu nằm trên bãi cát là tàu tỵ nạn đó, cái tàu bé tí xíu như chiếc xuồng câu vậy mà vẫn có người dám bước lên tàu để đi tìm tự do.”
    Bên trong trại Galang1 nhiều thứ hầu như còn nguyên vẹn, nhà thờ, chùa, trường học, xưởng làm tàu hủ, chỗ làm nước đá …có cái cũ kỹ theo thời gian có cái được trùng tu lại, ngôi chùa Quan Âm Tự đặc biệt được sửa sang lại khá đẹp, nghe nói có đôi vợ chồng người Tàu giàu có nhưng hiếm muộn đến ngôi chùa nầy cầu tự thì sinh được một đứa con trai, họ đền ơn đáp nghĩa bằng cách xây dựng lại nó đẹp đẽ như ngày nay. Galang3 là nơi định cư của 530 thuyền nhân xấu số, đoàn làm lễ cầu an cầu siêu cho họ rồi chia nhau cấm nhang cho từng ngôi mộ, mong sao hương khói nầy sưởi ấm trong phút giây những linh hồn hoang lạnh từ lâu của những đồng bào đồng hương nơi xứ lạ quê người. Có những ngôi mộ được ghi là cha mẹ lập mộ cho con, bạn bè lập mộ cho…, con cháu lập mộ cho cha mẹ ông bà…, anh em tù nhân chính trị lập mộ cho …Khi một người nằm xuống ta hay chúc cho họ an giấc ngàn thu, trường hợp những người nằm nơi nghĩa trang nầy họ có an giấc ngàn thu chăng hay vĩnh viễn buồn xa xứ? Đoàn dừng lại chùa Kim-Quang ở Galang2 ăn trưa, chúng tôi gặp một nhóm du lịch người Nam-Duơng trong đó có vài sơ công giáo, cha Chi gặp đồng đạo trên đất nước có đông người theo hồi giáo nhất thế giới tại một ngôi …chùa, âu cũng là một dịp may hiếm có, trông cha vui hẳn lên. Trong Galang2 có Nhà Bảo Tàng Thuyền Nhân Việt Nam thấy còn đơn sơ lắm, nghe nói chính quyền Nam Dương sẽ chỉnh trang khu vực nầy thành một mini-museum như là chứng tích lịch sử của một thời tỵ nạn.
    Sau đó chúng tôi được hướng dẫn đến miếu 3 cô, nơi có 3 cái miếu nho nhỏ nằm dưới một cây đa rất to, chuyện kể rằng có hai chị em trên đường vượt biển bị cướp, bị hải tặc hãm hiếp nhiều lần, vào được trại tỵ nạn còn bị trêu chọc và bị các phái đoàn từ chối, bao nhiêu cái “bị” làm hai cô xấu hổ và tuyệt vọng đưa đến thảm cảnh cả hai cùng treo cổ tự vận nơi cây đa nầy. Sau đó cũng có một cô lâm vào hoàn cảnh như trên rồi cũng kết thúc cuộc đời như vậy. Ba cái miếu trông tiêu đìu rong rêu bao phủ, cô đơn làm sao, tội nghiệp làm sao, bé bỏng làm sao dưới cội cây đa già. Cạo rong rêu đi chúng tôi biết được các cái miếu nầy do Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa làm nên, những người lính chịu nhiều thiệt thòi nhất trong khói lữa chiến tranh lại là người đưa bàn tay ve vuốt những linh hồn bất hạnh, xin được cuối đầu trước nghĩa cử của:
Người thất cơ đành thịt nát xương tan
Những kẻ sống lòng son không biến chuyển
. (Đằng Phương: Anh hùng vô danh).


Miếu 3 Cô trên Galand 2

    Trên đường về chú Hùng người trẻ nhất và anh Ngành xin được ghé bờ biển ngày xưa để tắm, chú Hùng thấy nước là nhảy xuống tắm liền tắm luôn cái passport, rắc rối chút với cái passport lem luốc khi làm thủ tục nhập cảnh Singapore. Trong khi ngồi chờ hai nhân vật nầy tắm, cả đoàn được một chầu uống nước dừa tươi mua từ các cư dân sống theo ven biển, ngon chi lạ, có một chị gốc Việt Nam người Trà-Vinh ở đây đã hơn 40 năm, tiếng Việt quên gần hết, ai hỏi chị hiểu nhưng trả lời rất khó khăn, có lúc trả lời không được chị ta lõn-lẽn cười trông hiền lành dễ thương ghê. Anh Abu (người bản xứ, bạn của Hùng khi còn ở Galang) cho biết hiện có 25 thuyền nhân Việt Nam còn kẹt ở Batam, chúng tôi xin đi thăm và được biết tất cả họ đều là dân Sóc-Trăng, đến Indonesia năm 2006 và được Cao-ủy nuôi trong trại cấm. Họ đang sống trong sự chờ đợi, chờ đợi cho đến bao giờ để được đi định cư??? Thấy cuộc sống bẫn chật, tù túng, tương lai mịt mù của họ nhất là các cháu nhỏ không được đi học suốt ngày quanh quẩn trong căn nhà chút xíu như cái nhà tù. Hai chị Anne Oh (người Singapore vừa tháp tùng với đoàn khi chúng tôi đi qua đây) và chị Thanh-Hà cứ giọt ngắn giọt dài suốt. Họ cho biết đây là lần đầu tiên có người Việt đến thăm sau 2 năm bị nhốt, tất cả người trong đoàn gom góp tiền bạc cho họ, chiều lại chị Hà, đi mua quà gói lớn gói nhỏ đủ cở để thành một đống, sáng sớm hôm sau chị trở lại trại tặng cho họ trước khi đoàn từ giã Nam-Dương trở lại Singapore.
    Singapore sạch sẽ, đẹp đẽ, giàu có, văn minh trong trí tôi ở bận đi qua để đến Batam nhạt nhoà ngay khi đặt chân xuống khách sạn 81. Những cô gái ăn sương còn rất trẻ đứng thành từng hàng, ăn mặc chỉ cái quần xì áo nịt ngực, che dù vì trời mưa lâm râm, đến khi nghe họ nói chuyện mới biết nhiều người trong số họ là Việt Nam. Trên đường ra phố tìm chỗ ăn tôi thấy những cháu gái Việt đáng thương nầy đi thành nhóm nói chuyện với nhau vang vang bằng tiếng Việt, những cái nhà thỗ mang tên Việt như: Đêm màu Hồng, SàiGòn … (sao không mang tên Hồ chí Minh? những người chủ của thủ đô Sàigon chưa bao giờ chủ trương mang con cháu mình ra nước ngoài làm nô lệ lao động, tệ hại hơn là làm nô lệ tình dục). Trong một đất nước nổi tiếng sạch sẽ, giàu có, dân chúng cùng là da vàng mũi tẹt như mình mà những cô gái Việt ở đây phải chui rút sống trong khu đèn đỏ làm điếm!!! Nhục!!! Nỗi buồn nầy khi ngồi viết lại tôi vẫn còn thấy nó man mác trong lòng.
    Bài viết có đoạn kết hơi buồn phải không quí vị? Tuy nhiên tôi cũng có được chút an ủi cho các anh chị em và cho chính mình những người đang góp bàn tay trong hội thiện nguyện Vovicare: biết đâu rằng trong số hơn 300 học sinh mà Vovicare đã và đang bảo trợ có một số em nhờ vào lòng hảo tâm của các vị mạnh thường quân, của các vị đang bảo trợ học vấn và của chúng mình mà khỏi phải lâm vào hoàn cảnh đen tối, tủi nhục như các cô gái Việt ở Singapore!

Trương thị Cần Thơ 

 Vài Điều ghi nhận 

 1- Trường hợp 1
   Trong chuyến về VN vừa qua tôi có gặp một trường hợp cảm động cần sự giúp đở. Tôi xin được tường trình vắn tắt sự việc như sau:
    Một buổi chiều tôi đang đi trên đường Lê Lợi, SG, tôi thấy một cô gái tuổi trạc 30 đang ngồi trên lề đường bán vé số. Điểm đặc biệt làm tôi chú ý, đôi chân của cô ta bị teo nhỏ lại vì vậy; cô ta không thể đi đứng được! Muốn đi cô ta phải dùng đôi tay để di chuyển.
    Khi thấy tôi đi đến cô ta nhìn tôi khẻ mĩm cười và gật đầu nhẹ chào. Tôi nhận thấy trên khuôn mặt gầy gò ưu tư nhưng trong đó có cái nét hiền từ, sáng sủa… Sau một hồi hỏi thăm tôi được biết cô ta tên Tích và bị sốt tê liệt từ nhỏ nên đôi chân bị liệt! Quê cô Tích ở Tuy Hòa, vì gia cảnh quá nghèo không người nuôi dưỡng nên cô Tích dẫn 2 cô em gái vàoo SaiGon để tìm phương sinh sống. Công việc của cô Tích hiện nay là bán vé số vừa lo miếng ăn vừa lo cho 2 cô em ăn học. Hai đứa em, đứa lớn tên Thảo, 12 tuổi đang học lớp 5, đứa nhỏ tên Mỹ, 11 tuổi học lớp 4. Ngoài giờ học Thảo và Mỹ còn giữ em cho hàng xóm để kiếm thêm tiền phụ với chị.
    Khoảng 2 tuần sau, theo địa chỉ tôi tìm đến nhà cô Tích. Căn nhà chỉ rộng bằng chiếc giường đôi, bên trong trống trơn không có đồ đạc gì cả! Khi gặp Thảo và Mỹ, tôi ngạc nhiên khi thấy 2 đứa rất đẹp mặc dù còn nhỏ và ăn mặc lam lũ! Điều nầy làm tôi ưu tư vì biết rằng nghèo khổ mà đẹp là điều bất hạnh, trước sau gì rồi cũng sẽ bị người xấu gạt gẩm và lợi dụng!
Chính vì điều nầy mà tôi cứ suy tư, muốn tìm cách giúp cho gia đình  nầy thoát khỏi cái điều bất hạnh đó.
    Tôi có giúp cho 3 chị em một số tiền để về quê ăn Tết và có hứa sẽ giúp cho Tích một số vốn để buôn bán kiếm tiền nuôi 2 em ăn học.
    Khi trở lại Úc, tôi có đem việc nầy bàn với anh Việt, sau đó tôi và anh Việt đồng ý đem sự việc nầy nhờ Hội Trăng Rằm giúp đở. Vào buổi họp của Hội Trăng Rằm tại nhà thầy Tôn vào tháng 3/08, tôi có đem sự việc ra trình bày và quý Thầy có mặt hôm đó đều đồng ý Hội Trăng Rằm sẽ lo giúp đở cho 3 chị em nầy.

1- Trường hợp 2
Em Trương Thị Phụng năm nay học lớp 4 trường Tình Thương Vũng Tàu phải thôi học vì trường Tình thương Vũng Tàu do Mục sư Phan chí Tâm điều hành, bị chính quyền địa phương ra lệnh đóng cửa với lý do mơ hồ là không đúng tiêu chuẩn của bộ giáo dục nhà nước. Tình cảnh của em Phụng và gia đình rất đáng thương vì quá nghèo mà còn phải nuôi bà mẹ già bị liệt trong nhiều năm qua, cha đã bỏ đi lập gia đình khác, còn lại mẹ đi bán vé số, không đủ nuôi bà mẹ già và 2 con, làm sao có tiền đóng học phí. Vì vậy, em Phụng phải thôi học để giúp mẹ và có thể đứa em trai đang học lớp 2 có thể bỏ học trong môt ngày gần đây.
Trước hoàn cảnh này, Vovicare đã nhờ tới Nhóm Trăng Rằm giúp đở và được đáp ứng nhiệt tình. Thầy Giác chịu trách nhiệm xúc tiến việc trợ giúp thực tiển để gia đình này ổn định sinh kế. Đặc biệt là cô Nguyễn T.T, người bảo trợ học vấn cho em Trương Thị Phụng tình nguyện bảo trợ thêm cho đứa em trai của em Phụng được an tâm cắp sách đến trường. Thay mặt cho Vovicare, cám ơn Nhóm Trăng Rằm và trân trọng tấm lòng của cô Nguyễn T.T.

TẠP GHI
Do SonDang ghi lại những buồn vui của cuộc đời.


1/ Ý nghĩa nụ cười:
    Các bác tài xe bus, giờ giấc hay bị trễ, đôi khi phải chạy thục mạng , vì vậy thành ra mang tiếng chạy ẩu! Nhưng nếu không như vậy thì không thể nào làm cái nghề nầy được. Tôi cũng không ra khỏi cái ngoại lệ đó.
    Hôm đó khoảng 8.30 sáng, tôi chở mấy “ông bà nội” học sinh đến trường. Đến cuối đường, tôi cần quẹo phải nhưng vì là giờ cao điểm nên xe cộ nối đuôi nhau không dứt. Đang sốt ruột thì tôi thấy có một chiếc xe có tốc độ hơi chậm chừa một khoảng cách mà tôi nghĩ là có thể qua được. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi làm một cú quẹo phải cấp tốc. Anh chàng tài xế chiếc xe đó giật mình khi thấy chiếc xe bus của tôi lù lù trước mặt. Thay vì thắng gấp, anh chàng làm một cú quẹo trái thật ngoạn mục. Thông thường gặp trường hợp như vậy các bác tài thường bấm kèn hoặc đưa 2 ngón tay lên chưỡi thề cho đở tức. Thay vì làm như vậy thì trái lại anh chàng nầy ngoái đầu nhìn tôi và nở một nụ cười, tôi thấy trong nụ cười đó chứa đựng biết bao nhiêu là ý nghĩa. Vừa hóm hỉnh, vừa thông cảm, vừa tự hào… Tôi gật đầu cười đáp trả, vừa cảm ơn, vừa đồng tình với nụ cười của anh ta.
    Tôi thấy vui quá. Cuộc đời sao lại có những người tuyệt vời như vậy! Cả ngày hôm đó, gặp ai tôi cũng nở nụ cười và cũng nhận lại được rất nhiều nụ cười thân thiện. Ước gì trên cuộc đời nầy ai cũng có sẵn nụ cười để tặng cho nhau dù là thân quen hay xa lạ.

2/ Ý nghĩa cuộc sống, giá trị và hạnh phúc.
    Thỉnh thoảng tôi có chở vài người khách đặc biệt. Mới đầu tôi tưởng họ đi làm, nhưng sau một thời gian tôi mới biết là không phải. Họ cũng ăn mặc chỉnh tề, cũng xách cặp, xách giỏ giống y như người đi làm vậy, ngày nào cũng đón xe bus, xe lửa, làm ra vẻ bận rộn. Nhưng thay vì đến sở làm thì họ lân la ngoài phố, hết nơi nầy đến nơi nọ cho đến giờ người ta đi làm về thì họ cũng đón xe lửa, xe bus trở về. Có một ông già chuyên môn đi lượm rác và một anh chàng nọ, vừa câm vừa điếc, hay lân la ở các trạm xe bus để tìm cách giúp những hành khách không biết đường hoặc bỡ ngỡ vì mới đi xe bus lần đầu.
    Phải chăng những người nầy cho rằng giá trị của một con người là phải có một công việc làm để góp phần vào lợi ích chung của xã hội ?
    Có một người nào đó đã nói rằng: Có một công việc để làm, có một người nào đó để thương yêu và có một điều gì đó để hy vọng. Phải chăng câu nói nầy đã nói lên được đầy đủ ý nghĩa của cuộc sồng?

3/ Nó cũng giang hồ lắm chú ơi!
    Cuối niên học vừa qua, tôi gọi điện về VN gặp Thảo (Đại diện Vovicare VN) để hỏi thăm tình hình và bàn một vài công việc cần thiết. Khi hỏi đến Phan Minh Phát thì Thảo nói: Thằng nầy, nó cũng giang hồ lắm chú ơi! Nghe Thảo nói làm tôi bật cười, rồi Thảo kể cho tôi nghe chuyện giang hồ của Phan Minh Phát, em học sinh mà Tony đang bảo trợ.
      Khoảng 6 năm về trước, Phan Minh Phát được Tony Phạm nhận Bảo Trợ Học Vấn. Phát ngoan, hiền và học giỏi. Được 2 năm thì gia đình em có chuyện không vui giữa cha mẹ. Em buồn chán rồi đâm ra hư hỏng, quậy phá, đánh lộn, bị công an bắt giam. Khi được sư cô Như Thiền bảo lãnh về và vẫn được chú Tony tiếp tục bảo trợ, em trở lại đời sống đàng hoàng, tiếp tục vừa học vừa đi làm thêm để phụ với gia đình đang trong hoàn cảnh túng thiếu.
    Năm 2008 em đậu vào Đại Học ngành Xây Dựng. Ngày lên Sài Gòn xem kết quả thi tuyển, chiều hôm đó trong mình em chỉ còn 4.000$VN. Đói quá em bèn ghé vào một quán cơm, em nói với ông chủ quán có dĩa cơm nào 4.000 cho em một dĩa ăn đở đói để về quê. Ông chủ quán hỏi thăm và biết được hoàn cảnh của em bèn nói rằng: Mầy ăn xong rồi vô trong rửa chén trừ tiền cơm. Rửa chén xong thì trời đã tối mà em cũng không còn đủ tiền để về xe. Ông chủ quán hỏi: Mầy có muốn ở đây rửa chén cho tao không ?
    Thế là em ở lại rửa chén cho ông chủ trong khi chờ ngày nhập hoc. Một tháng sau với số tiền rửa chén, em cũng trang trãi được phần nào cho chi phí vào Đại Học. Cầu chúc cho em được  Công Thành Danh Toại.
    Tôi nhớ lại câu nói của chị Dung khi biết tin Phát đánh lộn bị công an bắt nhốt: Đúng là đệ tử của Tony.

4/ Vươn lên từ nghèo khó.
    Năm 2003 Hằng Vi được Vovicare nhận Bảo Trợ Học Vấn. Nhà nghèo, cha mất, mẹ lấy chồng khác. Hằng Vi vừa học vừa chăm sóc cho bà Nội đã già yếu và bịnh hoạn. Căn nhà của Hằng Vi ở, theo như lời của chị Hạnh kể thì nhà không cần quạt máy vì mấy tấm vách cứ để cho gió thổi xuyên qua một cách tự nhiên. Còn tối đến thì có thể vừa ngắm sao trời vừa vỗ giấc ngũ!
    Năm 2006, qua bao nhiêu khó khăn và thử thách Hằng Vi cũng đã vào được Đại Học ngành Kinh Tế. Căn nhà lụp xụp cũng bị cơn bão năm đó làm cho tan tành, đổ nát. Các bạn cùng lớp dự định hè năm đó sẽ cùng nhau về quê dựng lại căn nhà cho Hằng Vi. Nhưng may quá, năm đó anh Sơn Trần về VN thăm nhà rồi sẵn dịp thăm các em sinh viên đang được Hội bảo trợ luôn. Biết được hoàn cảnh của Hằng Vi, anh Sơn đề nghị với Hội giúp em xây lại căn nhà đổ nát. Chỉ vài tháng sau căn nhà khang trang được hoàn tất với chi phí 10.000.000 $VN do Vovicare tài trợ.
    Từ Mỏ Cày, Bến Tre lên thành phố ăn học, không bà con thân thích, em phải ở trọ và tìm việc làm thêm để có thể trang trãi chi phí cho việc ăn ở và  học hành. Em nhận đồ thêu và phải làm việc thêm từ 4 đến 5 tiếng mỗi ngày. Tuy chịu khó như vậy nhưng vẫn không đủ tiền để trang trãi cho các chi phí ! Hình như tháng nào Thảo (Đại diện Vovicare VN) cũng phải cứu đói cho em bằng một thùng mì gói!
    Đầu năm 2008, em bị một chứng bịnh của phụ nữ cần phải có khá nhiều tiền để chữa trị. Vì không có tiền nên em để quá lâu,bịnh ngày càng thêm nặng. Khi biết được Thảo la em quá
xá rồi báo cho Hội biết. Với sự giúp đỡ của chị Hồng Hạnh, Trần Tom (người bảo trợ học vấn cho Hằng Vi từ khi em con đang học Trung học) và Vovicare, bịnh của em hiện đã thuyên giảm rất nhiều. Tuy bịnh tình đã ổn định nhưng theo lời của Thảo thì em bị xuống ký và rụng tóc vì tác dụng phụ của thuốc.
    Mong rằng em sẽ hoàn tất chương trình Đại Học và sẽ tìm được một việc làm căn bản để xây dựng lại cuộc sống tốt đẹp.

5/Dòng kỷ niệm:
- Thúy Ái: Ai mà hổng chịu hoạt động lăng xăng lên xuống vovi chạy bàn, rửa nồi, vui chơi cùng anh em… mà trốn ở nhà hoài thì tướng tá sẽ bị…..tàn phá như dzay nè! Hehehe……….
         An old man in his mid-fifties      struggles...... 
- Sơn Trần: Tính ra Vovicafe thành lập được 4 năm, Vovicare 8 năm, Vovisoft 10 năm, Vovikungfu 12 năm. Ừ, chính xác là như vậy, mà từ đó tới bây giờ mọi chuyện đều tự nhiên, khi cần thì có người làm, không ai bảo ai, không có người nầy thì có người kia…
- Tony Phạm: Cái nhóm của mình hay thiệt, hễ cần cái gì thì có người làm liền. Lúc mới dọn qua đây, tôi thấy ổng (SơnTrần) đang lui cui làm ống nước, đến khi cần làm mái nhà thì có ông nầy (Khánh).
- Phúc Vũ: Em nói thiệt với anh Sơn, em quí các anh lắm. Em biết các anh làm việc từ tấm lòng… nhưng mà anh Sơn nhớ để ý lo cho mấy chị trong nhà bếp với nha.
- Khánh: Lúc mới biết mấy anh, ở cái nhà bên kia kìa. Lúc đó em ngồi bên trong còn mấy anh thì ngồi ngoài nắng, mà mấy anh rất vui. Mấy anh không có tính toán chuyện tiền bạc gì hết, em còn nghe mấy anh nói định đem võng ra ngoài kia nằm ngũ nữa mà. Lúc đó quán còn ế.
- Sang Trương: Bây giờ ai rửa nồi?...Ông coi như tôi đi holiday một thời gian đi, từ từ rồi tôi trở lại, làm sao mà tôi bỏ được!
- Việt Trương: Xin giới thiệu với quí vị, anh Hùng và chị Hằng sẽ tình nguyện vào roster nấu cho nhà bếp…Có tiếng nói nho nhỏ vang lên từ phía sau khi biết được có người cùng chung số phận của những người làm từ thiện: Rồi ! Lại có thêm một nạn nhân nữa rồi !

Muc đích sống của chúng ta là gì?

    Bài viết do em Đinh Thị Ngọc Trâm, một cựu học sinh được Vovicare bảo trợ học vấn, nay đã ra trường Đại học kế toán và có việc làm ổn  định tại Đà Nẵng. Hiện em là một thành viên nhiệt tình của Vovicare tại VN.

    Có người thì muốn một cuộc sống giàu sang, có người thì muốn một cuộc sống hạnh phúc bên người mình yêu, cũng có người lại ước vừa có cả hai vv…v.., nhưng cũng có những ước mơ thật nhỏ nhoi là được đi học.Cuộc đời cho ta thật nhiều hy vọng và mơ ước, nhưng để đạt được những mơ ước đó là điều không dễ.
    Cô bé có người mẹ hằng ngày đi lượm chai bao lại mơ ước được tiếp tục đi học và kiếm một việc làm có thu nhập kha khá để làm kiếm tiền giúp mẹ , để mẹ không còn phải khổ cực với chiếc xe đạp dạo quanh thành phố và ghé thăm các thùng rác công cộng, đến 9h tối mới về tới nhà, người cha thì bị bệnh tật nên mọi việc dồn lên đôi vai gầy của mẹ em.Thêm một em cũng thường xuyên cùng mẹ sáng sớm thức dậy với nồi bánh canh, mỳ quãng. Khi bán hết thì mừng nhưng khi bán không hết là ngay ngày đó cả nhà phải ăn thay cơm. Cuộc sống đã vất vả nay còn vất vả hơn khi người cha đã rời bỏ gia đình em ra đi mà không bao giờ trở lại, một mình mẹ phải gánh vác toàn bộ gia đình với hai đứa con còn đang trong tuổi học hành.
    Mơ ước của hai em đều mong muốn giúp đỡ mẹ bớt vất vả bằng những hy sinh ham muốn của tuổi học trò, có thể vừa học vừa kiếm tiền để phụ gia đình. Và giấc mơ của hai em đã thành sự thật và hơn cả mong đợi khi hai em được ân nhân của Hội Vovicare nhận bảo trợ, hai em lại có thể tiếp tục học tập và mẹ em không phải lo nghĩ đến những chi phí học tập của con mình.
    Thấy được hạnh phúc mà các em có được, tôi cũng được hạnh phúc lây khi là người trao cho các em số tiền giúp đỡ hàng tháng, mới chỉ góp một chút công việc rất bé nhỏ so với những người khác mà tôi đã cảm nhận được một niềm hạnh phúc nhỏ nhoi huống chi những ân nhân làm những việc lớn hơn thì họ được hạnh phúc bao nhiêu, chắc là không thể đếm được. Và có lẽ mỗi thành viên trong Hội đã tìm thấy mục đích sống của họ là tìm kiếm hạnh phúc thông qua những em bé có hoàn cảnh đặc biệt, người nghèo, bệnh tật, người già cả không nơi nương tựa và những gia đình có hoàn cảnh khó khăn
    Thay mặt các em được bảo trợ, tôi xin chân thành cám ơn các ân nhân đã rộng tay giúp đỡ và bao bọc các em trên con đường học vấn. Chúc các ân nhân một mùa Giáng Sinh vui vẻ và một Năm mới hạnh phúc.

 Ngọc Trâm - Đà Nẵng

VĂN PHÒNG KHAI THUẾ, KẾ TÓAN
ĐẶNG TRUNG CHÍNH

  - Đảm trách tất cả các dịch vụ về kế tóan, thuế lợi tức và GST cho cá nhân và các cơ sở kinh doanh
  - Sấp xếp nhân viên đi nhận hồ sơ của quí vị nếu được yêu cầu.
  - Đặc biệt: Thành lập công ty trong vòng 1 giờ, đăng ký ABN và Tax file number cùng lúc
Suite 12, 76-80 John St, Cabramatta NSW 2166
Tel: (02)9726-0222    Fax: (02)9725-7063

ĐỘC LẬP AUTO
2/43 Chadderton St Cabranatta NSW 2166
Phone: 9755-5399  Fax: 9755-5460

Chuyên: sửa máy xe, check xe, regas máy lạnh xe …vv…
Đặc biệt có nhận chuyển đổi xe chạy xăng qua chạy Gas         
                                          Do Anh Phạm Văn Dai điều hành:
                                                        - Tận tâm
                                                       - Tin tưởng
                                                       - Nhiều kinh nghiệm xe máy xăng và máy dầu

Luật sư Karen Thảo Đỗ

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ AKN & ASSOCIATES
SOLICITORS & BARRISTERS
ĐẢM TRÁCH CÁC DỊCH VỤ PHÁP LÝ
  - Mua bán nhà cửa đất đai
  - Luật thương mại mua bán business, sang nhượng shop, hãng xưởng và franchise.
  - Hợp đồng thuê mướn shop, hãng xưởng…vv.
  - Lập di chúc và luật thừa kế tài sản
  - Thảo duyệt hợp đồng mượn tiền mua nhà đất, business và hợp đồng tái phối trí tài chính.
  - Thành lập công ty
  - Luật gia đình, ly dị, phân chia tài sản
8A/119A John Street Cabramatta NSW 2188
Tel: (02) 9754-1334   Fax: (02)9754-1335

nvdezigns

Handmade jewellery
Postal: P.O.Box 545
Civic Square ACT 2608
Email: enquiries@nvdezigns.com

TRANG  THƠ

Tình  Thu Vẫn Còn Đây 

những bước đời hoang vu
trong buổi sáng sương mù
phất phơ vài sợi tóc
trên môi người khẽ ru

còn gì trong trí nhớ
còn gì trong con tim
còn gì trong hiện tại
giữa dòng đời nhẹ êm

con đường vẫn thênh thang
bước chân vẫn nhẹ nhàng
bên đời thu lá đổ
ru hồn người miên man

dường như là nhung nhớ
dường như là mộng mơ
dường như là ngây dại
một thoáng đời rất thơ

bước chân người ngược xuôi
năm tháng vẫn ngậm ngùi
người về mang nỗi nhớ
những mảnh đời buồn vui

mùa thu vẫn còn đây
chiếc lá bỗng hao gầy
trên nhành cây cô tạnh
tình thu vẫn còn đây

Khánh Vân 

Pháp Thoại

Có khi là chiếc lá rơi
Vi vu trong gió nói lời tử sinh
Có khi nắng ấm bình minh
Ấp ôm vạn loại tỏ tình yêu thương
Có khi hạt bụi bên đường
Nói lên bài pháp vô thường mong manh
Lăn tăn bọt sóng đầu gành
Nói lên bài pháp tử sanh luân hồi
Chiều nay có áng mây trôi
Thênh thang khắp lối nói lời vô ngôn.

SonDang.

Lối Về

Ra đi mấy nẽo trầm luân
Lao xao sóng vỗ bâng khuâng lối về
Giật mình chợt tỉnh cơn mê
Mây giăng lớp lớp lối về rêu phong.

                                                                        SonDang

"Hảy đi góp lá nghìn phương lại
                                                  Đốt lửa cho đời tan khói sương"

Trái tim hoàn hảo 

    Có một chàng thanh niên đứng giữa thị trấn và tuyên bố mình có trái tim đẹp nhất vì chẳng có một tì vết hay rạn nứt nào.  Đám đông đều đống ý đó là trái tim đẹp nhất mà họ từng thấy.
Bỗng một cụ già xuất hiện và nói" Trái tim của anh không đẹp bằng trái tim tôi ".
    Chàng trai cùng đám đông ngắm nhìn trái tim của cụ.  Nó đập mạnh mẽ nhưng đầy những vết sẹo. Có những phần của trái tim bị lấy ra và những mảnh tim khác được đắp vào nhưng không vừa khít nên tạo một bề ngoài sần sùi, lởm chởm.  Có cả những đường rãnh khuyết vào mà không hề có mảnh tim nào trám thay thế.
    Chàng trai cười nói "Chắc cụ nói đùa?  Trái tim của tôi hoàn hảo , còn của cụ chỉ là những mảnh chắp vá đầy sẹo và vết cắt "
    Cụ già đáp "Mỗi vết cắt trong trái tim tôi tượng trưng cho một người mà tôi yêu, không chỉ là những cô gái mà còn là cha mẹ, anh chị, bạn bè... Tôi xé một mẩu tim mình trao cho họ, thường thì họ cũng sẽ trao lại cho tôi một mẩu tim của họ để tôi đắp vào nơi vừa bị xé ra.  Thế nhưng những mẩu tim chẳng hoàn toàn giống nhau, mẩu tim của cha mẹ trao cho tôi lớn hơn mẩu tim tôi trao cho họ, ngược lại với mẩu tim của tôi và con cái tôi.  Không bằng nhau nên chúng tạo ra những vết sần sùi mà tôi luôn yêu mến vì chúng nhắc nhở đến tình yêu mà tôi đã chia sẻ.  Thỉnh thoảng tôi trao mẩu tim của mình nhưng không hề nhận lại được gì, chúng tạo nên những vết khuyết.  Dù những vết khuyết đó thật đau đớn nhưng tôi vẫn hi vọng một ngày nào đó họ sẽ trao lại cho tôi mẩu tim của họ, lấp đầy khoảng trống mà tôi luôn chờ đợi".
    Chàng trai đứng yên với giọt nước mắt lăn trên má. Anh bước tới, xé một mẩu từ trái tim hoàn hảo của mình và trao cho cụ già.  Cụ già xé một mẩu từ trái tim đầy vết tích của mình và trao cho chàng trai.  Chúng vừa nhưng không hoàn toàn khớp nhau, tạo nên một đường lởm chởm trên trái tim chàng trai. Trái tim của anh không còn hoàn hảo nhưng lại đẹp hơn bao giờ hết vì tình yêu từ trái tim cụ già đã chảy trong tim anh...                                                         

Thúy Ái  sưu  tầm

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Được biết tin buồn: thân mẫu của Anh Trần Hữu Bá là
Bà Quả Phụ Trần Hữu Dư
Nhủ danh Lý Thị Kiều
đã mệnh chung ngày 22 tháng 11 năm 2008 tại Sa Đéc – Việt Nam
Hưởng thọ 82 tuổi
Toàn thể anh chị em gia đình VOVI đồng thành kính phân ưu Anh Chị Bá cùng tang quyến và cầu nguyện hương linh cụ Bà được an nghĩ nơi miền miên viễn.

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Được biết tin buồn: thân mẫu của Anh Phạm Văn Dai  là
Bà Quả Phụ Phạm Văn Xửng
Nhủ danh Chế Thị Ngư
đã mệnh chung ngày 24 tháng 10 năm 2008 tại Bàu Đồn, Tây Ninh – Việt Nam
Hưởng thọ 84 tuổi
Toàn thể anh chị em gia đình VOVI đồng thành kính phân ưu Anh Chị Dai cùng tang quyến và cầu nguyện giác linh cụ Bà sớm phiêu diêu nơi cõi thượng...

Nỗi lo của các gia đình nghèo trước năm học mới

    Trước mùa khai trường niên học mới, phụ huynh nghèo khó, có thu nhập thấp đang lo âu trong việc chuẩn bị cho con em mình trở lại trường lớp.
    Theo các báo trong nước, thiết bị giáo dục tăng đồng loạt, sách giáo khoa, tập vỡ, có thứ tăng gần giá gần gấp đôi. Các loại bút chì, bảng, thước kẻ, cặp đựng sách vỡ, dụng cụ học trò, mấy ngày gần đây tăng trung bình từ 5% tới 20%. Đây là sự âu lo đang đè nặng đối với những gia đình có 2 hay 3 đứa con sắp trở lại học đường cùng lúc vào đầu Tháng Chín tới.
    Bên cạnh số tiền phải chi để mua sắm học cụ cần thiết, bậc cha mẹ còn phải chạy lo thêm tiền sắm áo quần, đóng học phí, mua sách giáo khoa. Có nhiều trường ra quy định buộc học sinh phải mặc đồng phục khiến phụ huynh càng thấp thỏm lo âu hơn, vì bao năm rồi con em họ cứ mặc lại quần áo cũ.

    Trước đây, đồng phục giá là từ 30 ngàn đến 40 ngàn đồng một bộ, nay tăng lên 60 ngàn đồng một bộ. Như vậy, chỉ riêng tiền mua sách giáo khoa, dụng cụ học tập cần thiết, các gia đình đã phải chi trên dưới 600 ngàn đồng cho một đứa con. Đối với thành phần lao động thu nhập nhất, đây là món tiền quá lớn mà họ phải tốn kém hay phải đi vay mượn. Mặt khác, việc lạm thu linh tính phí từng bị dư luận phản đối mạnh mẽ, nay lại được biến hóa bằng nhiều cách khác, gây bất bình cho phụ huynh. Nhiều khoản tiền nộp cho quỹ nhà trường đã không có biên nhận minh bạch.


VoviCare
A Charity Association

VoviCare is a non-profit, charity association which was founded in 2000 with the aim of assisting poor but hard-working children to continue their schooling.
VoviCare directly carries out and co-ordinates all their activities without going through any middle men or any other organisations, government.

Your IP : 54.198.134.32    Bản Tin
 
Copyright © 2008 Vovicare
Phone: (02)91537241 (Viet)
Mobile: 0422-655-472 (Son)
P.O.Box 153 Riverwood
NSW 2210 Australia
Email: contact@vovicare.net
Website: http://www.vovicare.net
Website: 1315311 hits  This page: 1315414 hits Page generated in: 0.0703125 secs Webmaster