HomeBảo Trợ Học VấnBảo Trợ Từ ThiệnCông tác xã hộiTâm TìnhTìm HiểuBản TinGia Đình VoviVui CườiAbout Us

Mục lục

Tâm TìnhHọc trò đọcBài học Tinh thần Bao dung  
Lính HQ Mỹ nhặt rác ở VN
Báo động 2: Văn hóa Dân tộc
Để lại niềm Danh dự cho con
Tôi đi học
Báo động 1: Văn Hóa Dân Tộc?
Tác động Bài thơ “Tuổi Trẻ”
Câu chuyện một học trò nghèo
Con Ngựa Mù
Một câu chuyện cảm động
Một câu chuyện nhỏ: tấm lòng
Tinh thần người phụ nữ VN
Bài học Tình nghĩa Dân tộc
Bài học Tinh thần Bao dung
Sinh viên VN tại ĐH Berkely
Bài học Tinh thần Tha nhân
Bài học về Lòng Tự trọng
Gương Liều Mình Cứu Người
Từ trái tim bé nhỏ của mình
Bài học: Chớ nên đạo văn
Trúng Lottery, tặng Từ thiện
Bài học về sự tha thứ
Một Tấm Gương
Tội gian lận nên tránh
Cái giá của Nụ Cười
Bài học từ thảm họa Tsunami
Bao la tình mẹ
Hai thiên tài thế giới
Con mắt của trái tim
Câu Chuyện Người Tử Tế‏
Một chuyện ngắn, một bài học
Yên lặng như tờ
Bài học về Đồng Tiền Dơ Bẩn
Lời Di Chúc của Vua Trần
Hịch tướng sĩ
Bình Ngô đại cáo
Biết ơn Thầy tôi
Bác sĩ Mỹ có trái tim vàng
Bài học về tình người
Gương phấn đấu
Bài văn gây xúc động
Bài học Xin Lỗi
Nợ người dễ trả hơn nợ mình


Welcome to Vovicare

VoviCare là một tổ chức từ thiện xã hội vô vị lợi đã hoạt động từ năm 2000 do một số người Việt tị nạn sinh sống tại Sydney - Úc châu sáng lập, chú trọng ưu tiên vào lãnh vực đầu tư học vấn cho các em - mồ côi hoặc nghèo nhưng hiếu học - có cơ hội được cắp sách đến trường.


Nhựt Bản Tấn Công Hải Cảng Sydney

Trương thanh Việt sưu tầm
Ngày 01/06/2002

      "Ngoài việc 19 thủy thủ Úc và 2 thủy Anh bị tử trận trên chiếc HMAS Kuttabul (do quả ngư lôi của Tiềm Thủy Đỉnh Nhựt đánh trúng) đã được an táng theo nghi thức danh dự trong quân đội Hoàng Gia Úc Ðại Lợi, một tuần sau đó, 4 cảm tử quân của Nhựt (kẻ thù của dân Úc) gồm đại úy Kenshi Chuman, sĩ quan phụ tá Takeshi Mamoru, trung úy Keiu Matsuo và sĩ quan phụ tá Masao Tsuzuku tự sát trong 2 chiếc Midget Submarine M-14 và M-21 cũng được làm lễ hỏa táng tại Eastern Suburbs Crematorium, Sydney, ngày 09/06/1942 với nghi thức quân sự trang nghiêm gồm một toán dàn chào cùng với 3 quả đại bác tiễn đưa 4 linh cửu được phủ lá quốc kỳ Nhựt. Hướng dẫn toán dàn chào là hạm phó HMAS Kuttabul, ông Bob Scanlon, vị sĩ quan cao cấp trên tàu còn sống sót. 
      Ðây là một nghĩa cử hào hiệp đã làm người dân nước Nhựt phải cúi đầu suy gẫm khi tờ báo nổi tiếng của Nhựt - The Asahi Shimbun Newspaper - đưa tin lên trang nhất ngày 07/10/1942 về sự việc và hình ảnh trang trọng của buổi hỏa táng.
      Ông Teiji Yamaki, một cảm tử quân tàu ngầm còn sống sót đã phải phát biểu như sau: 'Tôi rất cảm kích trước việc làm của người dân Úc Ðại Lợi. Thời điểm đó, khi hay tin người dân Úc đã đối xử với kẻ thù bằng một nghĩa cử cao đẹp mà người dân nước tôi chưa hề có đối với kẻ thù của mình, tôi thật xúc động và cúi mặt mà suy gẫm.' "

*  *  *

Vũ khí bí mật của  Nhựt Bản
     
Thế chiến thứ 2 bùng nổ đúng vào lúc phát-xít Nhựt đã hoàn tất việc trang bị cho xứ của họ một lực lượng quân sự hùng mạnh nhứt. Họ tin tưởng vào điều này nên sẵn sàng liên kết với Ðức và Ý làm thành phe TRỤC, nhằm rảnh tay tung hoành cả một vùng rộng lớn phía Ðông. 
      Tham vọng bành trướng của Nhựt không chỉ giới hạn trong phạm vi các nước Á Châu ven Thái Bình Dương mà còn muốn vươn dài ra xa tận phía Ðông và Nam bán cầu. Nước Úc là một trong những mục tiêu lâu dài của họ.
      Ðể chuẩn bị cho cuồng vọng này, giới quân sự Nhựt nhắm vào điểm chiến lược là Hải Cảng Sydney để tấn công khống chế nước Úc. Vì hoàn cảnh địa lý và tầm xa hoạt động, họ thừa hiểu rằng loại qui ước tấn công qui mô như họ đã từng áp dụng đối với các nước lân cận không thể thực hiện được. Cho nên họ điều nghiên để hoạch định một chiến thuật tấn công chớp nhoáng và bất ngờ bằng phương tiện chiến tranh nhanh, gọn, nhẹ và dễ di chuyển. Ðó là tiềm thủy đĩnh đặc biệt - một loại vũ khí bí mật mà Nhựt đã phải mất 10 năm chế tạo và 4 tháng chuẩn bị cho một cuộc tấn kích vào thành phố chính Sydney của Úc.
      Năm 1932, chính phủ Nhựt dành 37.6% ngân sách quốc gia cho Bộ Chiến Tranh. Trong khi đó, nước Úc chỉ dành có 4.4% ngân sách cho chi phí quốc phòng mà thôi.
      Với một phần ngân quỹ lớn lao này, Hải Quân Hoàng Gia Nhựt đã âm thầm phát triển kế hoạch vũ khí bí mật. Năm 1936, hải quân Nhựt đã cho thử nghiệm một loại tiềm thủy đĩnh con kiểu mẫu 2 người lái tại Hải Quân Công Xưởng KURE. Cuộc thử nghiệm cho thấy kết quả không hoàn chỉnh vì khó điều khiển và dễ mất thăng bằng khi hải hành lúc biển động. Ðiều này không làm cho giới chức quân sự Nhựt nản lòng, họ vẫn tiếp tục thúc đẩy kế hoạch này cho tới khi nào đạt được kết quả mong muốn. Ba năm sau, tức vào năm 1939, loại tiềm thủy đĩnh Con này được hoàn tất tốt đẹp với tên gọi là "A" Class Midget Submarine. Loại “A” Class Midget Submarine được trang bị trên tiềm thủy đĩnh Mẹ, loạ i “I” Class Mother Submarine mà Nhựt đã có sẵn từ trước.
        “A” Class Midget Submarine có dạng một ống hình tròn tóp 2 đầu, nặng 46.7 tấn, chiều dài 24m và đường kính bụng lớn nhất chỉ đo được 1.8m mà thôi. Vũ khí trang bị là 2 phóng ngư lôi dài 5m. Midget Submarine được vận chuyển bằng một động cơ điện 600 mã lực. Một cặp chân vịt song hành có thể đẩy Midget Submarine đạt tới vận tốc 23 gút/giờ nếu hải hành trên mặt nước và 19 gút/giờ nếu hải hành dưới độ sâu. Tầm hoạt động là 80 hải lý nếu chạy với tốc độ 2 gút/giờ và 15 hải lý nếu chạy với tốc độ tối đa 23 gút/giờ (vận tốc càng chậm thì tầm hoạt động càng xa). Ðộ lặn tối đa 30m sâu.
     Cũng cần nói sơ vài đặc điểm của tiềm thủy đĩnh mẹ “I” Class Mother Submarine. Chiều dài 109 m, nặng 2600 tấn với thủy thủ đoàn khoảng 100 người. Một động cơ điện 2000 mã lực và 2 máy chánh Diesel 12,400 mã lực cho phép con tàu đạt tới vận tốc tối đa 23.5 gút/giờ nếu chạy trên mặt nước và 18 gút /giờ nếu đang lặn. Tầm hoạt động 14,000 hải lý và độ sâu tối đa chịu đựng được là 100m. Vũ khí trang bị gồm 6 ngư lôi, 4 khẩu phòng không 25 ly và 1 khẩu đại bác 140 ly.
       Có 2 loại “I” Class:
1.     Loại “I” Class type B1 (Air Reconnaisance) Submarine chở theo một thám thính cơ GLEN SEAPLANE trong hầm chứa ở sàn dưới với 12 cơ phận rời.
2.     Loại “I” Class Type C1 (Mother) Submarine chở theo một tiềm thủy đĩnh con “A” Class Miget Submarine gắn phía sau trên boong chính.

Những Người Lùn Gieo Máu Lửa  
        Sau khi tiềm thủy đĩnh con “A” Class Midget Submarine được chính thức xử dụng vào năm 1939, một toán đặc nhiệm gồm 39 người được tuyển chọn trong Hải Quân Hoàng Gia Nhựt để được huấn luyện riêng cho loại vũ khí mới này. Họ là những cảm tử quân thông minh và gan dạ nhất với tinh thần và thể chất phù hợp với kế hoạch, với một điều kiện hết sức đặc biệt là không ai cao hơn 1.52m, vì lý do đơn giản là chiều cao trong phòng điều khiển của Midget Submarine chỉ độ 1.8m. Họ là những người lùn sẽ gieo máu lửa.

    

        Ông Teiji Yamari là một trong 39 thành viên của nhóm cảm tử trên. Người đã may mắn sống sót và hiện nay đã 88 tuổi. Ông nhớ lại phản ứng đầu tiên khi ông được dẫn tới chiếc Midget Submarine: “Tôi rất ngạc nhiên là tại sao nó quá nhỏ như vậy.” Lời ông nói với Claude Gonzalez, nhà làm phim Sydney, hồi đầu năm. Tương tự, ông Jikyo Ishino, Phó Ðô Ðốc hồi hưu, nay đã 86 tuổi cũng đã phát biểu như sau: “ Lần đầu tiên thấy nó, tôi rất lấy làm ngạc nhiên và tự hỏi là làm sao con người có thể chui vào và điều khiển con tàu?”
        Sau khi huấn luyện xong, 20 trong số 39 cảm tử quân Nhựt này được điều động tới những Midget Submarines để nhận lãnh sứ mạng, lên đường hoạt động. Họ đã tham dự 3 cuộc tấn công. Thứ nhất là trận Trân Châu Cảng ngày 07/12/1941 gồm 5 chiếc. Thứ hai là trận Diego Suarez ở Madagascar ngày 30/05/1942 gồm 2 chiếc và thứ ba là trận Cảng Sydney gồm 3 chiếc. Trong trận tấn kích vào Trân Châu Cảng, chỉ có thiếu úy Kazuo Sakamaki là người duy nhất còn sống sót và là tù binh chiến tranh đầu tiên trong thế chiến thứ hai.

Hoạch Ðịnh Hế Hoạch Tấn Công Cảng Sydney
        Với chiến thắng vang dội ở Trân Châu Cảng vào ngày 07/12/1941, mà trong đó 5 chiếc Midget Submarine đã đóng một vai trò hữu hiệu trong chiến thuật tấn công bất ngờ đánh chìm các chiến hạm Hoa Kỳ, Nhựt bắt đầu thực hiện cuộc phiêu lưu vào Úc Ðại Lợi. Tấn công nước Úc, hải cảng Sydney, Nhựt được 2 điểm lợi, một là nới rộng mộng bành trướng của mình và hai là triệt hạ điểm tựa tốt của phía Ðồng Minh.

        Cuộc tấn công vào cảng Sydney sẽ dựa vào yếu tố bất ngờ, nhanh lẹ. Và lực lượng duy nhất thích hợp cho cuộc tấn công này là tiềm thủy đĩnh mà Midget Submarines sẽ làm mũi dùi chiến thuật. Hải Ðội Ðặc Nhiệm Tấn Công Miền Ðông (Eastern Attack Group) của Nhựt được thành lập tại Hashirajima và do hạm trưởng Hankyo Ashaki chỉ huy. Ðể dễ điều động cho một cuộc tấn kích vào cảng Sydney, toàn bộ lực lượng Hải Ðội phải di chuyển tới căn cứ quân sự Truk Lagoon, 900 cây số về phía bắc New Guinea. Ngày 16/04/1942, họ rời căn cứ lên đường sang Truk, gồm 6 chiếc Mother Submarine “I” Class là I-21, I-22, I-24, I-27, I-28 và I-29 cùng với 2 thám thính cơ Glen Seaplane trên 2 chiếc I-21 và I-29.
        Chưa đầy một tuần sau, Hankyo Ashaki ra lệnh cho chiếc I-29 rời căn cứ Truk trực chỉ đến vùng biển phía đông Úc Ðại Lợi nhằm mục đích theo dõi những hoạt động Hải Quân của Úc cũng như phe Ðồng Minh ra vào cửa biển Sydney và Newcastle.
        Ngày 17/05/1942, Hải Ðội Ðặc Nhiệm Tấn Công Miền Ðông đón nhận thêm 4 chiếc "A" Class Midget Submarine cùng với đầy đủ thủy thủ đoàn (là những người lùn cảm tử) từ chiếc Hải Vận Hạm CHIYODA, để trang bị cho 4 chiếc Mother Submarine I-22, I-24, I-27 và I-28.
        Lực lượng Hải Ðội bây giờ coi như được bổ sung đầy đủ. Vì thế, để tránh làm mục tiêu của phe Ðồng Minh, buổi sáng sớm ngày hôm sau 18/05/1942, chỉ huy trưởng Ashaki hạ lệnh tất cả phải phân tán mỏng, rời khỏi căn cứ Truk. Mặc dù vậy, cũng không tránh khỏi con mắt do thám của phe Ðồng Minh, chiếc I-28 bị tàu ngầm Hoa Kỳ có tên là TAUTOG phát hiện và đánh chìm ngay. Ashaki ra lệnh cho những chiếc còn lại không được phản ứng trả đũa và phải tiếp tục phân tán mỏng từ New Zealand dọc lên bờ biển Sydney. Vài ngày sau, I-24 đang ngoài khơi cửa biển Sydney nhận lệnh chuẩn bị thả chiếc Midget Submarine sẽ do trung úy Teiji Yamaki và sĩ quan phụ tá Matshimoto điều khiển, đảm nhận công tác dọ thám cảng Sydney. Trong khi kiểm soát lại mọi cơ phận trước khi được thả ra, bất ngờ bình hơi ép trong hầm chứa các bình điện phát nổ làm cho Yamaki bị thương nặng và Matshimoto văng xuống biển mất xác. Chiếc I-24 phải trở về căn cứ Truk. Sau khi sửa chữa xong, I-24 quay lại vùng công tác và lần này mang theo một ê-kíp mới cho Midget Submarine, đại úy Katsushia Ban và sĩ quan phụ tá Mamoru Ashibi.
        Tuy nhiên, vì tai nạn xảy ra trên chiếc I-24, Ashaki đổi ý, thay vì dùng phương tiện Midget Submarine, ông ta cho Glen Seaplane thay thế công tác dọ thám trên. Ngày 23/05/1942, I-29 phóng chiếc thám thính cơ của mình bay vào vùng trời Sydney. Mặc dù cao xạ phòng không đầy dẫy khắp nơi, trên các chiến hạm Úc và tuần dương hạm USS CHICAGO của Mỹ (vừa rời trận chiến Coral Sea đang neo im lìm trong cảng), nhưng tất cả gần như bất động, không hay biết gì về chuyến bay về sáng bất ngờ của Nhựt nên chiếc Glen Seaplane đã trở về lại I-29 an toàn.

 

Một chuyến bay thám thính cuối cùng trước ngày tấn công
        Ngày 24/05/1942, Bộ chỉ huy của Hải Ðội Ðặc Nhiệm Tấn Công Miền Ðông (EAG) nhận được lệnh từ căn cứ Truk chỉ thị sẵn sàng tấn công mục tiêu, hải cảng Sydney.
         Ngày 28/05/1942, Thủ Tướng Nhựt đưa ra lời hăm dọa tấn công Úc và đồng thời kêu gọi giới lãnh đạo Úc từ bỏ phe Ðồng Minh tham gia vào phe Trục. Lời tuyên bố không được Úc đáp ứng và thế là cuộc tấn công Sydney bắt đầu.
        Chỉ huy trưởng Ashaki tức tốc ra lệnh cho 5 chiếc tiềm thủy đĩnh mẹ "I" Class qui tụ tại vị trí 25 hải lý ngoài khơi mũi Heads của cửa biển Sydney.
        Trước khi tung các Midget Submarine vào sâu trong lòng cảng Sydney để truy kích các chiến hạm Úc và Hoa Kỳ một cách hiệu quả, Hankyo Ashaki chỉ thị cho hạm trưởng Sasaki của Mother Submarine I-21 thực hiện một chuyến bay thám thính cuối cùng để xác định mục tiêu chính xác các đối tượng cần tiêu diệt.
        Sau đây là mẩu chuyện phi vụ thám thính hừng đông ngày 30/05/1942 do chính phi công cảm tử Susumo Ito, hiện nay đã 88 tuổi, sống ở làng Iwakuni phía nam Hiroshima kể lại:

  “Tôi rời khỏi đất nước thân yêu của tôi vào giữa tháng tư năm 1942 trên chiếc tiềm thủy đĩnh I-21. Tôi nhớ rất rõ vì tôi nghĩ đó là lần cuối nhìn quê hương bỏ lại phía sau tàu. Núi Phú Sĩ sừng sững từ xa, chúng tôi hứa với nhau là nếu còn sống sót trở về sẽ cùng nhau thăm lại ngọn núi này.
        Chiếc I-21 hướng về Truk Lagoon. Sau đó là những chuyến công tác hải hành trên khắp các vùng biển Ðông, từ Fiji, Noumea xuống đến New Zealand. Rồi đến một ngày gần cuối tháng 5, chiếc I-21 đổi hướng từ New Zealand chạy ngược lên. Trên đường đi, biển thật động và trời thật lạnh. Vào khoảng 3 giờ sáng ngày 30/05/1942, hạm trưởng Sasaki ra lệnh cho tàu nổi lên mặt nước. Lúc đó tàu đang ở vị trí 35 hải lý đông bắc Sydney. Nơi đây, biển vẫn còn động mạnh, gió giật từng cơn làm con tàu nghiêng ngã. Tôi được lệnh chuẩn bị nai nịch để thi hành công tác quan trọng. Trong khi tôi chuẩn bị hành trang cá nhân và uống sa-kê để từ giã bạn bè thì bên trên boong tàu chánh, ngoài 17 nhân viên bận rộn với nhiệm sở của họ, chỉ có 3 chuyên viên kỹ thuật đặc biệt phụ trách việc lắp ráp chiếc Glen Seaplane với 12 cơ phận rời được trục lên từ sàn dưới. Thời gian lắp ráp phải nhanh, không quá 10 phút, để tránh bị phát hiện và tấn công. Với đôi cánh rộng 10m, dài 9m, chiếc phi cơ này được gắn vào dàn phóng có một rãnh hướng dẫn dài 18m.
        Tôi và Iwasaki đã sẵn sàng trong phòng lái và chờ đợi. Khi việc kiểm soát lần cuối hoàn tất, tôi bấm nút, chiếc phi cơ được phóng vào trong bầu trời mờ sương buổi sớm, khoảng 3 giờ 45 sáng.
        Tôi lái chiếc Glen Seaplane bay về hướng thành phố Sydney. Mặc dù ở xa 35 hải lý, nhưng tôi vẫn thấy rõ ánh đèn thành phố. Tôi lái từ North Head rồi xuống South Head và bay dọc theo vịnh với độ cao 500m. Sydney rực sáng, các chiến hạm vẫn còn đang thấp đèn neo, không một chỉ dấu nào cho thấy có một sự báo động xảy ra. Tôi bớt lo sợ và cảm thấy an tâm hơn.
        Mây thấp làm cản trở tầm quan sát phía dưới, tôi hạ độ cao còn 300m và nhắm thẳng đến cầu Sydney Harbour. Tôi nhớ lại những lần kháo nhau với bạn bè là tôi sẽ cho phi cơ chui dưới dạ cầu này. Tôi nghĩ là tôi có thể thực hiện được nhưng trong một công tác quan trọng, tôi không cho phép mình làm như vậy.
         Tôi ghi nhận có 13 chiến hạm Ðồng Minh bao gồm tuần dương hạm USS Chicago, khu trục hạm Perkins và Bobbin, tiềm thủy đĩnh K9 Hoàng Gia Hòa Lan cùng các tuần dương hạm của Hải Quân Hoàng Gia Úc như HMAS Canberra, Westralia, Kanimba...
        Bản đồ của chúng tôi quá cũ nên không chính xác. Thí dụ Garden Island trên bản đồ lại vẽ tách rời với đất liền. Ðó là một sai sót lớn làm chúng tôi phải vất vả và cẩn thận lắm mới ghi nhận được. Tôi tiếp tục bay qua cầu, đến Cockatoo Island rồi đảo một vòng trở lại hướng cũ. Thời tiết mỗi lúc mỗi xấu hơn. Tôi bay qua khỏi mũi Head, đến điểm hẹn nhưng không tìm thấy Mother Submarine I-21. Tôi phải làm lại một vòng và lấy hải đăng Macquarie làm chuẩn để xác định vị trí điển hẹn. Thế nhưng tôi vẫn tìm không ra. Bắt buộc tôi phải dùng tín hiệu làn sóng ngắn, và nhờ vậy, tôi bắt được tín hiệu trả lời bằng những chớp sáng nhỏ lóe lên từ mặt nước.
        Trong điều kiện bình thường, phi cơ có thể đáp xuống mặt nước dọc theo chiều dài tiềm thủy đĩnh để rồi sau đó được móc lên tàu nhưng hôm nay, thời tiết quá xấu, gió mạnh, biển động, độ nhìn zero, những lượn sóng quá cao làm tôi phải quyết định hạ cánh trong điều kiện nguy hiểm. Khi phi cơ vừa tiếp xúc với mặt nước, một đợt sóng cao xô tới làm gãy trục chống cặp phao nổi, phi cơ giật nảy lên rồi chìm nghiêng một bên. Iwasaki văng ra khỏi phi cơ và rớt xuống biển, còn tôi phải chui ra khỏi buồng lái và bơi thoát trong biển động mông mênh. Không bao lâu sau, cả tôi và Iwasaki được cứu lên tàu. Lạnh run nhưng tôi vẫn còn thấy chiếc thám thính cơ thân yêu của chúng tôi còn đương nghiêng ngửa giữa những đợt sóng nhồi. Trời bắt đầu sáng tỏ cho nên chúng tôi phải tức tốc quyết định bắn chìm phi cơ.

Diễn tiến Trận Tấn Công Cảng Sydney
        Sau chuyến phi vụ dọ thám sáng ngày 30/05/1942, Hankyo Ashaki nắm rõ các vị trí các chiến hạm Ðồng Minh đang neo trong cảng Sydney.  Ngày 31/05/1942 lúc 5.20 giờ chiều, ông ra lệnh cho 3 chiếc Mother Submarine I-22, I-24 và I-27 chuẩn bị thả các Midget Submarine của mình có các mã hiệu như sau: M-A, M14 và M21 để mở cuộc tấn công chớp nhoáng vào những mục tiêu đã được chỉ định.

        Ashaki dự trù trận tấn công sẽ kết thúc trong đêm.
        Ðến 5.40 giờ chiều, 3 chiếc Midget Submarine M-A, M14 và M21 đã thả xong và sẵn sàng chờ lệnh. Sydney đang ở vào mùa đông nên trời mau tối, sau 5 giờ chiều mặt trời đã xuống gần tới đường chân trời. Thời điểm này là hoàng hôn, rất quan trọng vì lý do trời còn đủ sáng để cho công việc thả Midget Submarine được dễ dàng. (Cũng cần nói thêm, trong ngành hàng hải, 2 thời điểm bình minh và hoàng hôn là 2 thời điểm đặc biệt. Nhân viên phải tính giờ mặt trời mọc, mặt trời lặn mỗi ngày và ghi lên bảng nhật lệnh để người phụ trách lo định vị trí con tàu bằng thiên văn. Chỉ trong những giây phút này, người thủy thủ mới có thể vừa nhìn thấy được những vì sao và vừa nhìn thấy được đường chân trời. Ðó là 2 yếu tố cần và đủ để làm một point thiên văn. Và điều lý thú nữa là theo truyền thống hải quân quốc tế, giờ thượng kỳ buổi sáng cố định - thường là 7 giờ sáng - nhưng giờ hạ kỳ lại thay đổi hàng ngày tùy theo giờ mặt trời lặn đã được ghi trên bảng nhật lệnh. Ðiều này áp dụng chung cho tất cả các chiến hạm cũng như các căn cứ  trên bờ).
        Theo kế hoạch, chiếc Midget Submarine M-14 do đại úy Kenshi Chuman và sĩ quan phụ tá Takeshi Mamoru điều khiển sẽ tiên phong đi trước dò đường.
        Chiếc Midget Submarine M-A với đại úy Katsushisa Ban và sĩ quan phụ tá Mamoru Ashibi sẽ xuất phát kế tiếp, và cuối cùng là Midget Submarine M-21 có trung úy Keiu Matsu và sĩ quan phụ tá Masao Tsuzuku.     
        Ðúng 7.45 giờ tối, chiếc Midget Submarine M-14 xuất phát tiến vào cửa vịnh. Vừa qua khỏi Middle Head thì bị vướng ngay lưới phòng thủ (Incomplete boom net) chắn ngang ngay cửa ra vào, một đoạn dây cáp của lưới quấn chặt chân vịt và không thể nào thoát ra được.
        Ðến 8.15 giờ tối, Midget Submarine M-14 bị phát giác bởi Cargill, một nhân viên trực của sở phòng vệ hàng hải (Maritime Service Board).  Nhưng, báo cáo của Cargill về trung tâm phòng thủ hải cảng không làm ai tin. Ngay cả vị tư lịnh trách nhiệm, Phó Ðề Ðốc Gerard Muirhead-Gould, cũng cho là tin vịt và ông tiếp tục vui chơi với các sĩ quan hải quân Mỹ trong câu lạc bộ Tresco ở Potts Point... Chuman và Mamoru tìm cách cưa đứt sợi cáp định mệnh nhưng vô vọng. Chuman báo cáo tai nạn về cho bộ chỉ huy Hải Ðội Ðăc Nhiệm. Chỉ huy trưởng Hankyo Asaki liền ra lệnh cho Midget Submarine M-A lên đường ngay, lúc đó là 9.48 giờ tối, tiếp theo sau là chiếc cuối cùng Midget Susmarine M-21. Cả hai M-A và M-21 nhờ vào báo cáo tai nạn của Chuman nên tránh được màn lưới phòng thủ bằng cách lái sát bên bờ phía đông, tiến thẳng vào cảng. Trong khi đó, mải cho tới hơn 10 giờ đêm, Cargill mới liên lạc được 2 chiếc tàu tuần hải quân Úc HMAS Yarroma và HMAS Lolita. Khi hai chiếc này tới nơi, họ mới xác nhận đó là tiềm thủy đĩnh của địch đang vướng lưới. Thuyền trưởng Lolita thả 2 quả thủy lôi nhưng không nổ. Khi Lolita đang sửa soạn thả quả thứ ba thì một tiếng nổ kinh hoàng phát ra từ Midget Submarine M-14 làm cho chiếc Lolita giật nẩy lên khỏi mặt nước. Ðó là tiếng nổ tự hủy của M-14, lúc 10.35 giờ tối.
        Sau tiếng nổ kinh hồn này, còi báo động mới vang lên. Những chiếc tàu tuần của cảng Sydney phân tán theo thế cài răng lược để truy tìm tiềm thủy đĩnh địch. Chính vì vậy mà 2 chiếc Midget Submarine M-A và  M21 của Nhựt rất khó có cơ hội để trồi lên tấn kích mục tiêu. Một điều khôi hài của hệ thống phòng thủ của Úc là trong lúc báo động mà những ngọn đèn trên Garden Island vẫn cháy cho tới 12.20 giờ đêm, chẳng những soi sáng cả một khu vực hải quân công xưởng mà còn luôn cả các chiến hạm đang neo hay đang di chuyển, dễ dàng làm mục tiêu cho địch oanh kích. Cũng may cho Úc là cuộc tấn công này không phải là cuộc tấn công qui ước thông thường, không có sự phối hợp yểm trợ của phi cơ chiến đấu.

        Lúc 11.52 giờ tối, tuần dương hạm USS Chicago phát hiện khối tháp hình nón của Midget M-A nổi bên tả hạm chỉ cách 100m, những khẩu đại bác liền nhả đạn nhưng không trúng vì nòng súng không thể hạ thấp hơn để tác xạ mục tiêu gần. M-A tiếp tục lặn trốn mãi tới 12.29 giờ sáng mới trồi lên tại vị trí 200m cách mũi Bradleys Head. Katsushisa-Ban khai hỏa một lúc 2 quả ngư lôi vào USS Chicago nhưng rất may đều hụt. Một trái trượt trước mũi ghim thẳng vào bờ Potts Point, không nổ. Trái thứ hai lướt phía dưới lườn và bay vào vách tàu HMAS Kuttabul nổ tung làm 21 người chết tại chỗ và hơn 10 người bị thương. Khai hỏa xong, Katsushisa-Ban đã khéo léo lái chiếc Midget M-A của mình theo đường cũ và thoát ra cửa vịnh vào lúc 1.58 giờ sáng. Ðến nay không ai biết được định mệnh của nó ra sao mặc dù có rất nhiều giả thuyết về nó.(*)

        Còn chiếc Midget Submarine M21 cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự vì không thể thực hiện được yếu tố bất ngờ. Vừa khi mới vào cửa vịnh, chiếc M21 của Matsuo bị tàu tuần HMAS Lauriana phát hiện nhưng Matsuo lặn kịp thời tuy đã bị rúng động nhiều bởi những quả thủy lôi của HMAS Lauriana và cả HMAS Yandra. Midget M-21 phải lòng vòng trong cảng Sydney mà không tìm ra lối thoát. Ðến 3.50 giờ sáng, HMAS Kanimbla tìm thấy cái tháp quan sát của M21 trồi lên ở Neutral Bay và chiến hạm Kanimbla liền khai hỏa nhưng trật mục tiêu. Cuối cùng M-21 bị săn đuổi ráo riết và bị đánh chìm lúc 5 giờ sáng tại Taylors Bay bởi những trái thủy lôi thả chính xác của HMAS Sea Mist. Cả hai Matsuo và Tsuzuku đã tự bắn vào đầu tự sát.
        Cuộc tấn công đột kích bằng tiềm thủy đĩnh con của Nhựt vào hải cảng Sydney đêm 31/05/1942 không thành công nhưng sứ mạng của Hải Ðội Ðặc Nhiệm Tấn Công Miền Ðông vẫn còn duy trì tại bờ biển Sydney hơn một tuần sau đó. Có lẽ họ muốn cầm chân quân đội Úc trong việc tiếp trợ cho quân Ðồng Minh.
        Ngày 03/06/1942, chiếc thương thuyền Iron Chieftain trọng tải 4812 tấn đang tiến về cửa biển Sydney thì bị một trong những chiếc Mother Submarine “I” Class bắn chìm tại vị trí 27 hải lý ngoài khơi Mũi North Head.
        Ngày 08/06/1942 lúc 12 giờ trưa, Mother Submarine I-21 từ ngoài khơi Bondi Beach nả 10 quả đại pháo 140 ly vào các quận lỵ phía đông Sydney như Rose Bay, Bellevue Hill... nhưng hơn phân nửa đã bị lép. Hai tiếng đồng hồ sau, hạm trưởng Kanji Matsumura ra lệnh cho chiếc I-21 của ông ta trồi lên mặt nước ngoài khơi Newcastle và nả hơn 30 quả đại bác vào khu lọc dầu BHP nhưng chỉ có 1 quả nổ mà thôi. Cuộc pháo kích này chỉ xảy ra trong vòng có 13 phút rồi chấm dứt vì phản ứng quá mạnh của đồn phòng thủ Fort Scratchley bắn trả nhanh chóng bằng khẩu đại bác 152 ly. 

Hậu Quả
Tóm lại, cuộc tấn công bất ngờ vào hải cảng Sydney tuy không gây thiệt hại nào đáng kể cũng như cuộc mưa pháo vào Newcastle không làm cho kho lọc dầu và cơ xưởng chế tạo đạn dược, vũ khí, quân dụng của Úc nổ tung nhưng nó đã làm chấn động tâm lý của người dân Úc. Họ hiểu thế nào là nỗi lo sợ của một cuộc chiến tranh xâm lược đang xảy ra trên đất nước họ. Những cư dân ở các quận lỵ phía đông ven biển Sydney như Vaucluse, Bellevue Hill, Rose Bay, Potts Point, Bondi... đã kinh hoàng bởi những trái phá từ các tiềm thủy đĩnh địch ngoài khơi nả vào nên một số lớn lo bán tháo bán đổ những ngôi nhà khang trang và nên thơ để di tản vào sâu trong lục địa như Lithgow, Bathurst ...Do vậy, ở các vùng sang trọng như Vaucluse, giá nhà từ 8000 bảng Anh tuột xuống còn nửa giá. Còn ở các vùng lân cận như Rose Bay, Bondi... thì tệ hại hơn nhiều, giá nhà từ 1000 bảng Anh xuống chỉ còn 100 bảng Anh. Các công ty địa ốc thời đó chỉ rao bán các nhà ở vùng nầy cho những di dân tị nạn nghèo trốn chạy Phát Xít và Quốc Xã từ Âu Châu hay Do Thái. Ðến hôm nay, cộng đồng các sắc dân này vẫn còn hiện diện ở các vùng sang trọng và giá trị một căn nhà phải tính từ bạc triệu trở lên.

Ðoạn Kết Ðáng Nhớ
        Nhìn vào hoàn cảnh cảng Sydney lúc đó hết sức bất lợi, không một chuẩn bị, hệ thống phòng thủ lỏng lẻo, phản ứng chậm chạp và thiếu kinh nghiệm, ấy vậy mà cuộc tấn công của Nhựt không thành công. Câu hỏi được đặt ra là có phải sự may mắn đã đến với đất nước và người dân Úc Ðại Lợi?
        Và một điều được ghi nhận đáng nhớ là lối hành xử hào hiệp của chính quyền cũng như người dân Úc đối với kẻ thù sau cuộc tấn công đẫm máu.
        Ngoài việc 19 thủy thủ Úc và 2 thủy Anh bị tử trận trên chiếc HMAS Kuttabul đã được an táng theo nghi thức danh dự trong quân đội Hoàng Gia Úc Ðại Lợi, một tuần sau đó, 4 cảm tử quân của Nhựt gồm đại úy Kenshi Chuman, sĩ quan phụ tá Takeshi Mamoru, trung úy Keiu Matsuo và sĩ quan phụ tá Masao Tsuzuku tự sát trong 2 chiếc Midget Submarine M-14 và M-21 cũng được làm lễ hỏa táng tại Eastern Suburbs Crematorium, Sydney, ngày 09/06/1942 với nghi thức quân sự trang nghiêm gồm một toán dàn chào cùng với 3 quả đại bác tiễn đưa 4 linh cửu được phủ lá quốc kỳ Nhựt. Hướng dẫn toán dàn chào là hạm phó HMAS Kuttabul, ông Bob Scanlon, vị sĩ quan cao cấp trên tàu còn sống sót.
        Ðây là một nghĩa cử hào hiệp đã làm người dân nước Nhựt phải cúi đầu suy gẫm khi tờ báo nổi tiếng của Nhựt, The Asahi Shimbun Newspaper đưa tin lên trang nhất ngày 07/10/1942 về sự việc và hình ảnh trang trọng của buổi hỏa táng. Quyết định làm lễ hỏa táng cho kẻ thù trong thời gian đó đã gây tranh cãi không ít.  Một số người chỉ trích, cho là làm quân tử tàu,  nhưng hôm nay không mấy ai cho việc làm nêu trên là không đúng đắn. Tro cốt của 4 chiến sĩ Nhựt được đưa về quê hương của họ bằng nghi thức ngoại giao.

           Ông Teiji Yamaki, một cảm tử quân tàu ngầm còn sống sót đã phải phát biểu như sau: “Tôi rất cảm kích trước việc làm của người dân Úc Ðại Lợi. Thời điểm đó, khi hay tin người dân Úc đã đối xử với kẻ thù bằng một nghĩa cử cao đẹp mà người dân nước tôi chưa hề có đối với kẻ thù của mình, tôi thật xúc động và cúi mặt mà suy gẫm.”
        Tháng qua, Thủ tướng Nhựt Junichiro Koizumi đến Úc, ông thăm viếng bảo tàng viện chiến tranh ở Canberra để đáp lại tinh thần và nghĩa cử của người dân Úc đối với những thủy thủ tàu ngầm của họ cách nay 60 năm.

Ghi chú:
(*) Đầu năm 2007 tức là sau gần 68 năm, chiếc Midget Submarine M-A cùng với xác 2 cảm tử Nhựt (Đại úy Katsuhisa Ban và Sĩ quan phụ tá Mamoru Ashibe) đã được tìm thấy dưới lòng biển phía Bắc Sydney ngòai khơi Bungan Head. Điều này chứng tỏ rằng Ban và Ashibe đã lái chiếc Midget M-24 trốn chạy lên hướng Bắc vào khỏang 13 cây số trước khi chìm. (Cập nhật ngày 22/05/2007)

Trương Thanh Việt


VoviCare
A Charity Association

VoviCare is a non-profit, charity association which was founded in 2000 with the aim of assisting poor but hard-working children to continue their schooling.
VoviCare directly carries out and co-ordinates all their activities without going through any middle men or any other organisations, government.

Your IP : 54.162.19.123    Tâm TìnhHọc trò đọc
 
Copyright © 2008 Vovicare
Phone: (02)91537241 (Viet)
Mobile: 0422-655-472 (Son)
P.O.Box 153 Riverwood
NSW 2210 Australia
Email: contact@vovicare.net
Website: http://www.vovicare.net
Website: 1211393 hits  This page: 1211473 hits Page generated in: 1.144043 secs Webmaster